Tạp chí kinh tế

RFI Tiếng Việt

About

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

Available on

Community

78 episodes

Eurozone những khó khăn ở phía trước

Đồng euro mất giá so với đô la Mỹ chỉ là một trong những yếu tố gây thêm khó khăn cho kinh tế châu Âu. Châu Âu có nhiều mối lo : nguy cơ thiếu hụt năng lượng làm tê liệt cỗ máy sản xuất ; hiểm họa Đức - đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, suy thoái ; viễn cảnh lạm phát kéo dài, vượt ngoài tầm kiểm soát dẫn tới bất ổn trong xã hội và một lần nữa đẩy khu vực đồng tiền chung châu Âu vào vùng « bất ổn định ». Trên thị trường hối đoái ngày 11/07/2022, một euro đổi lấy một đô la. Truyền thông châu Âu rầm rộ đưa tin và bình luận về hiện tượng « chưa từng xảy ra từ năm 2002 ». Nhiều tờ báo hốt hoảng vì đồng euro « lao dốc », « mất giá » và nói đến một sự « sụp đổ đột ngột » so với đô la, « một đòn đau tấn thêm vào các doanh nghiệp và công dân châu Âu ». Euro mất giá hay đô la tăng giá ? Những nhận xét trên đây của báo giới không hoàn toàn đúng và đôi khi bị chỉ trích là vơ đũa cả nắm. Trước hết chênh lệch về giá cả giữa hai đơn vị tiền tệ của Mỹ và châu Âu khiến « kẻ được người thua » : các hóa đơn hàng nhập khẩu phải thanh toán bằng đô la thêm nặng. Trái lại, với các công ty xuất khẩu, euro mất giá là một tin vui : hàng của châu Âu sẽ rẻ hơn và sẽ hấp dẫn hơn. Kim ngạch xuất khẩu nhờ đó tăng lên. Từ ngành thời trang hạng sang đến các nhà xuất khẩu rượu bán sang Hoa Kỳ hay châu Á đều chờ đợi đơn đặt hàng từ nay đến cuối năm thêm dầy đặc. Tập đoàn sản xuất máy bay Airbus của châu Âu, các hãng xuất khẩu gan ngỗng béo của Pháp có lợi khi mà euro bằng giá hay thấp hơn so với đô la Mỹ. Những quốc  gia trong khu vực đồng euro nổi tiếng là những điểm du lịch hấp kỳ vọng với một đơn vị tiền tệ « mềm giá », du khách Mỹ, Canada và những nước không dùng euro sẽ chi tiêu thoải mái hơn trong những ngày nghỉ hè. Ngược lại, dân châu Âu dùng đồng euro sẽ ngại sang Mỹ chơi. Đi nghỉ ở châu Á, khu vực luôn chuộng đô la hơn euro, sẽ tốn kém hơn. Điểm không chính xác thứ nhì là khi truyền thông nói tới hiện tượng euro « sụp đổ đột ngột » so với đơn vị tiền tệ Mỹ : từ khi chính thức được hàng trăm triệu công dân châu Âu sử dụng từ ngày 01/01/2002, tỷ giá euro và đô la đã nhiều lần trồi sụt, dao động từ 1 euro đổi lấy 0,83 đến 1,6 đô la. Đây không là lần đầu tiên hai đơn vị tiền tệ quốc tế này bằng giá nhau, hay đồng euro thấp hơn đô la. Đúng là từ tháng Giêng 2022 đến nay, euro mất giá khoảng 15 % so với đô la Mỹ. Nhưng đây không là một sự « trượt giá đột ngột » bởi vì từ hơn một năm nay, đơn vị tiền tệ Mỹ liên tục tăng giá không chỉ so với đô la mà cả với đồng yen của Nhật, franc của Thụy Sĩ và kể cả với nhân dân tệ của Trung Quốc, vốn không lưu hành một cách tự do và không tuân thủ luật cung cầu như các đơn vị tiền tệ tại các nền kinh tế tự do khác. Chuyên gia kinh tế Pierre Jaillet, viện nghiên cứu châu Âu Jacques Delors và Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS giải thích vì sao giới trong ngành nói đến hiện tượng « đô la tăng giá hơn là euro mất giá ». Đó là hai khái niệm khác nhau :  « Theo tôi, không nên tập trung quá nhiều vào tỷ giá giữa đô la và euro nhưng đúng là giá hai đơn vị tiền tệ này đang ngang bằng với nhau vì nhiều lý do : Ngân Hàng Trung Ương Mỹ tăng lãi suất, đầu tư vào Hoa Kỳ có lợi hơn cho nên mọi người mua vào đô la Mỹ, ủy thác tiền vào ngân hàng Mỹ. Thứ hai là phần lớn các hóa đơn năng lượng được thanh toán bằng đô la. Dầu hỏa và khí đốt đang tăng giá. Người ta cần mua vào nhiều đô la hơn để trả cho các nhà xuất khẩu. Điểm thứ ba là khi tình hình địa chính trị căng thẳng, mọi người có khuynh hướng mua đô la hay vàng để tích trữ. Cả ba yếu tố này đẩy giá đô la lên cao. Bảo rằng euro mất giá là không chính xác bởi vì đơn vị tiền tệ chung châu Âu không mất giá so với các đơn vị tiền tệ khác trên thế giới. Thành thử tôi nghĩ rằng chúng ta nên nói đến hiện tượng đô la tăng giá thì đúng hơn là euro mất giá. Cuối cùng cần nhắc lại là Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu không có nhiệm vụ phải giữ giá đồng euro. BCE chỉ quan tâm đến tỷ giá của đồng tiền chung nếu như tỷ giá hối đoái đó ảnh hưởng đến các điều kiện thực thi chính sách tiền tệ và tài chính của toàn khối mà thôi ».    Clémentine Gallès kinh tế trưởng nhóm SGPB thuộc ngân hàng Pháp Société Générale trên báo tài chính La Tribune (số ra ngày 11/07/2022) thẩm định đô la tăng giá 15 % so với euro, so với đồng bảng Anh và đã tăng hơn 22 % so với đồng yen Nhật Bản trong sáu tháng đầu 2022. « Một cái cây che khuất cánh rừng »  Trong khi đó thì khu vực đồng euro gây lo ngại. Lạm phát đáng lo hơn euro « mất giá ». Lo ngại  châu Âu phải nhập khẩu năng lượng mà Nga là một nguồn cung cấp chính. Do căng thẳng địa chính trị và nhất là vì chiến tranh Ukraina giá dầu thô đã tăng hơn 40 % trong nửa đầu năm nay. Đô la tăng giá, các quốc gia dùng đồng euro phải mua vào dầu hỏa với giá đắt hơn đến 60 % so với những ngày đầu 2022. Chính dưới tác động của giá năng lượng tăng lên cộng thêm với chênh lệch hối đoái bất lợi cho euro, cho nên lạm phát tại châu Âu càng là một gánh nặng. Trong tháng 7/2022 lạm phát trong khu vực euro tăng 8,9 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Đây là hậu quả từ việc cùng lúc giá năng lượng, lương thực thực phẩm, hàng hóa đều bị đẩy lên cao. Theo thẩm định của Viện Thống kê châu Âu, năng lượng tăng gần 40 % trong tháng 7/2022 so với một năm trước đây ; thực phẩm tăng gần 10 % trong một năm. Trong số 19 nước sử dụng đồng euro, ba nước vùng Baltic bị nặng hơn cả : Litva chẳng hạn đội bảng với hơn 22 % lạm phát trong vòng một năm. Ý và Pháp tương đối dễ thở hơn với theo thứ tự 6,5và 6,8 % trong tháng 7/2022. Đức là 8,5 %. Nhà kinh tế Henri Sterdyniak, Đài Quan Sát Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE ghi nhận :   « Euro sụt giá so với đô la càng đẩy giá năng lượng lên cao, một số nông phẩm cũng đắt đỏ hơn. Trong bối cảnh đời sống đã đắt đỏ, đô la tăng giá là nguyên nhân đội lạm phát lên thêm khoảng 0,5 điểm ». Nguy cơ suy thoái Kèm theo đó là nguy cơ kinh tế châu Âu suy thoái. Henri Sterdyniak phân tích thêm về cái vòng luẩn quẩn chờ đợi khu vực đồng euro : « Chiến tranh Ukraina ảnh hưởng đến nhiều nước trong khu vực đồng euro, bởi vì khu vực này lệ thuộc nhiều vào khí đốt của Nga. Căng thẳng trên thị trường năng lượng có nguy cơ đẩy toàn khối vào suy thoái. Điều đó có nghĩa là lãi suất chỉ đạo của Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu không thể tăng lên nhiều và tăng nhanh như ở Mỹ. Các nhà đầu tư và đầu cơ sẽ tiếp tục chuyển các luồng vốn sang thị trường Hoa Kỳ. Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ đã phản ứng nhanh hơn châu Âu và mạnh tay hơn BCE trong việc tăng lãi suất ngân hàng. Các thị trường tài chính trên thế giới chuộng đô la hơn euro. Đương nhiên đồng tiền Mỹ tăng giá ». GDP của Bồ Đào Nha và Litva trong quý 2/2022 sụt giảm so với ba tháng đầu năm. Tỷ lệ tăng trưởng tại Đức tăng 0%. Pháp bất ngờ với đà bật dậy mạnh hơn mong đợi : GDP tăng 0,5 % trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2022. Tỷ lệ đó cao gấp đôi so với sự phóng của chính phủ và Ngân Hàng Trung Ương Pháp - Banque de France. Dù vậy, các viện nghiên cứu e rằng khu vực euro đang bước vào một vùng « bão táp » trong 6 tháng cuối năm và Đức có thể là tâm bão : lần đầu tiên từ 1991, cán cân thương mại của Đức bị thâm hụt. Xuất khẩu sang hai thị trường lớn là Trung Quốc và Nga giảm mạnh. Hóa đơn năng lượng của Berlin tăng thêm 12 % trong lúc dầu khí nhập vào Đức giảm đi mất 2 %. Đó là chưa kể đe dọa Nga cắt khí đốt, làm tê liệt ngành sản xuất của Đức. Theo Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Berlin chỉ vì yếu tố năng lượng, GDP của Đức có thể bị « giảm đi mất 5 % ». Bài toán của Liên Hiệp Châu Âu để thoát khỏi lạm phát và đình đốn kinh tế lại càng thêm khó khi phải cạnh tranh với Hoa Kỳ : chính vì tại Mỹ vật giá tăng nhanh hơn cả so với châu Âu nên Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Fed) đã phải nhanh chóng can thiệp, tăng lãi suất chỉ đạo. Fed từ cuối 2021 đã bắt đầu tăng lãi suất chỉ và đề ra mục tiêu nâng lãi suất ngân hàng từ nay đến cuối năm 2022 lên thành 3,5 %. Để so sánh, Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu mãi đến hôm 21/07 mới tăng lãi suất lên thành 0,5 %. Pierre Jaillet thuộc viện IRIS và trung tâm nghiên cứu châu Âu Jacques Delors nói đến một sự chậm trễ từ phía BCE : « Tình trạng này đặt các ngân hàng trung ương trong thế không thoải mái chút nào. Các định chế tài chính đó trong thế tiến thoái lưỡng nan : một mặt phải đối phó với lạm phát, giữ uy tín, nhất là về chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương, nhưng mặt khác thì không được can thiệp quá mạnh tay, làm phương hại đến tăng trưởng kinh tế. Nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất chỉ đạo. Ngân hàng Anh từ đầu năm đến nay đã 5 lần điều chỉnh lãi suất này. Canada nâng lãi suất chỉ đạo lên thành 1 %. Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ dự báo từ nay đến cuối năm, lãi suất phải được đẩy lên đến 3,5 %. Như vậy có nghĩa là nội trong 9 tháng, lãi suất ngân hàng ở Mỹ đã từ 0% tăng lên thành 3 %. Chưa khi nào chỉ số này lại tăng mạnh như vậy ». Sáng lập viên cơ quan tư vấn tài chính ACDEFI, Marc Touati đánh giá tất cả các dấu hiệu cho thấy khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ bước vào một chu kỳ Stagflation tức vừa suy thoái kinh tế và bị lạm phát hoành hành. Đó là chưa kể đến những bất ổn có thể xuất phát từ những xung khắc trong nội bộ 19 nước sử dụng đồng euro về một chính sách chung để vực dậy kinh tế, về một tiếng nói chung trước nhà cung cấp dầu khí chính của toàn khối là Nga, về chủ trương tiết kiệm năng lượng. Thêm vào đó còn phải tính đến yếu tố xã hội. Tại Ý, chính phủ liên minh đã tan rã, đảng cực hữu dân túy được cho là có nhiều triển vọng điều hành đất nước sau cuộc bầu cử vào tháng 10 tới đây. Pháp cũng đang lo một làn sóng bất mãn khác sẽ bùng lên tương tự như phong trào Áo vàng hồi 2018. Tương lai kinh tế của Đức khá mập mờ tạo điều kiện cho phong trào cực hữu bùng lên trở lại. 2022 là một năm khó khăn. Các dự báo cho 6 tháng cuối năm và kể cả cho năm 2023, tình hình có thể còn khó khăn hơn nữa.

9m
Aug 09
Nga vẽ lại bản đồ năng lượng của thế giới

Bốn tháng chiến tranh Ukraina cũng đủ khiến Nga soán ngôi Ả Rập Xê Út trở thành nguồn cung cấp dầu hỏa lớn nhất cho Trung Quốc. Nhờ tổng thống Putin, hoàng thái tử MBS của vương quốc dầu hỏa vùng Vịnh lại được trọng vọng, bốn năm sau vụ sát một nhà báo đối lập Ả Rập Xê Út. Đức, Ý hối hả đi tìm các nguồn cung cấp năng lượng khác lấp vào chỗ trống dầu hỏa và khí đốt của Nga. Mỹ phải sử dụng đến kho dự trữ dầu hỏa chiến lược.  Matxcơva dường như đang « vẽ lại bản đồ năng lượng thế giới ». Thống kê của Trung Quốc cho thấy, trong tháng 5/2022, lần đầu tiên Nga trở thành nguồn cung cấp số 1 của Trung Quốc. Công xưởng châu Á này nhập vào « gần 8,42 triệu tấn dầu » của Nga qua đường biển, chủ yếu là đường ống đi từ miền đông Siberi ra đến Thái Bình Dương. Cùng thời kỳ, Ả Rập Xê Út chỉ xuất khẩu được hơn 7,8 triệu tấn dầu cho Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa của Nga  sang Trung Quốc tăng 55 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Trọng tâm của thị trường Nga chuyển sang châu Á Lượng dầu của Nga xuất khẩu sang Hoa Kỳ chỉ còn tương đương với 12 % so với hồi đầu tháng 2/2022, trước khi những người lính Nga tràn sang biên giới Ukraina. Thế vào chỗ của Mỹ là Ấn Độ : New Delhi mua vào 0,9 triệu thùng dầu một ngày, thay vì 0,1 triệu trước chiến tranh. Về phần Liên Hiệp Châu Âu, cho đến ngày 24/02/2022, 27 thành viên là thị trường dầu khí lớn nhất của các tập đoàn Nga. Nhưng dưới tác động chiến tranh Ukraina, Liên Hiệp Châu Âu không còn là khách hàng « nặng ký nhất » của các tập đoàn dầu khí Nga. Cuối tháng 5/2022, Bruxelles quyết định « cấm vận dầu hỏa Nga » và đến cuối 2022, « ngừng nhập khẩu 92 % dầu của Nga ». Cũng trong hơn 5 tháng qua, giá một thùng dầu BRENT đang từ 87 đô la có lúc đã vượt ngưỡng 120 đô la, trước khi rơi xuống 109 đô la một thùng (ngày 19/07/2022). Trả lời đài truyền hình Pháp France 24, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS, nhìn nhận rất khó dự báo giá dầu ở thời điểm hiện tại, nhưng gần như chắc chắn là chiến tranh Ukraina còn kéo dài, Matxcơva còn tiếp tục khai thác lá bài năng lượng để « thưởng » hay « phạt » những nước bạn hay thù của Nga.   Francis Perrin : « Một số nước châu Âu đã giảm, hoặc ngừng nhập dầu hỏa của Nga. Cũng có những tập đoàn dầu khí chủ yếu là muốn tránh mang tiếng vẫn khai thác năng lượng Nga, nên đã giảm hẳn giao dịch với các đối tác Nga. Thêm vào đó, lệnh trừng phạt của phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến ngành dầu hỏa của Nga. Mức sản xuất giảm sụt từ tháng 4 vừa qua và xu hướng này còn sẽ tiếp diễn trong sáu tháng cuối 2022. Nga không đủ khả năng để cung cấp nhiều dầu hỏa hơn nữa. Trong bối cảnh từ trước chiến tranh Ukraina, thị trường dầu khí thế giới đã rất căng, giá cả liên tục bị đẩy lên cao, tôi nghĩ rằng từ nay đến cuối năm 2022, không có gì thay đổi, tức là mức cung không đủ để phục vụ nhu cầu của thị trường. Có thể giá dầu còn bị đẩy lên cao hơn nữa, nhưng đó chỉ là một khả năng mà thôi ». Một cuộc săn lùng các đối tác mới Châu Âu còn khốn khổ hơn nữa vì khí đốt của Nga. Tại nền kinh tế thứ ba của Liên Âu là Ý, vào lúc chính phủ liên minh tan rã, thủ tướng Mario Draghi vẫn đôn đáo đi tìm các đối tác mới. Roma đã đặc biệt quan tâm đến Algeri. Lệ thuộc đến 45 % vào khí đốt của Nga (trước chiến tranh Ukraina), Ý không có sự chọn lựa nào khác. Algeri từ cuối tháng 2/2022 đến nay trở thành nhà cung cấp số 1 cho nước Ý. Tại Berlin, thủ tướng Olaf Sholz đau đầu vì bài toán năng lượng : Nga mà khóa van khí đốt thì GDP của nền kinh tế số 1 Liên Âu sẽ mất từ 4 đến 5 điểm tăng trưởng. 100 % khí đốt đưa vào Đức qua các đường ống dẫn là chủ yếu, tất cả đều xuất phát từ Nga. Các nhà cung cấp của Nga chiếm hơn 50 % thị trường Đức Tương tự như Roma, Berlin đã vội vã chuyển hướng sang châu Phi, nhưng chủ yếu nhắm vào Senegal. Đây là nơi Đức đã đầu tư nhiều vào các dự án khí hóa lỏng và các chương trình phát triển năng lượng tái tạo. Paris, trong chưa hơn một chục ngày lần lượt tiếp tổng thống Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Mohamed Ben Zayed al Nahyane (MBZ) rồi thái tử Ả Rập Xê Út Mohamed Ben Salman (MBS), lãnh đạo hai kho dầu hỏa của thế giới. Pháp kỳ vọng vào Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Ả Rập Xê Út để làm « hạ nhiệt trên thị trường năng lượng » thế giới. Tổng thống Joe Biden, trước bầu cử giữa nhiệm kỳ, muốn tránh để đảng Dân Chủ mất phiếu vì lạm phát và xăng dầu tăng giá bào mỏng sức mua của người Mỹ. Chẳng đặng đừng, ông đã sang tận Riyad bắt tay hoàng thái tử Mohamed Ben Salman. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa nguyên thủ Mỹ với MBS được coi là điểm khởi đầu « phục hồi danh dự » cho lãnh đạo tương lai của vương quốc dầu hỏa này, sau những cáo buộc hoàng thái tử Ả Rập Xê Út trực tiếp liên can đến vụ sát hại tàn bạo một tiếng nói đối lập, nhà báo Jamal Khashoggi, hồi 2018. Ả Rập Xê Út bắt Âu, Mỹ trả giá Cũng chính từ sau cuộc tiếp xúc với tổng thống Hoa Kỳ trung tuần tháng 7/2022, MBS đã mạnh dạn trở lại sân khấu quốc tế, công du châu Âu với một chặng dừng quan trọng là thủ đô Paris. Cả Mỹ và Pháp cùng trông chờ vào Ả Rập Xê Út, thành viên quan trọng nhất khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa OPEP/OPEC để tăng mức sản xuất dầu, thay thế vào chỗ của Nga. Có điều, như chuyên gia về dầu hỏa Francis Perrin của viện IRIS ghi nhận, Nga là một trong 10 quốc gia của khối OPEP+ và không có gì bảo đảm là Mỹ hay Pháp còn có đủ sức thuyết phục với Ả Rập Xê Út như xưa : Francis Perrin : « Khối OPEP+ không chắc giữ được lời hứa tăng mức sản xuất dầu hỏa cho thế gới, cho dù đó chỉ là một mục tiêu khiêm tốn sản xuất thêm 648 triệu thùng dầu một ngày, vì rất nhiều lý do. Thứ nhất, Nga là một trong số 23 thành viên của OPEP+ và mỗi quyết định chung cần được toàn khối nhất trí thông qua. Matxcơva đương nhiên không chấp nhận để cho OPEP+ mở van dầu, vì như vậy bất lợi cho Nga. Điểm thứ nhì, là bản thân các quốc gia xuất khẩu có lợi khi giá dầu tăng cao. Thí dụ,  hiện tại giá một thùng dầu là khoảng 120 đô la, và như vậy còn thấp hơn nhiều so với đỉnh điểm hổi tháng 7/2008 ( 140 đô la/thùng ). Khối OPEP hay OPEP+ chẳng dại gì tăng mức cung để làm hạ nhiệt giá dầu. Lý do thứ ba, khối OPEP không muốn để mất Nga, cho nên dù có chiều lòng phương Tây, khối này cũng chỉ nhượng bộ một cách chừng mực. Sau cùng, việc sản xuất dầu hỏi hỏi phải có những phương tiện tài chính, kỹ thuật và còn tùy thuộc vào yếu tố địa chính trị nữa. Do vậy, nhiều nhà quốc gia có dầu nhưng không đủ sức để cung cấp thêm cho thế giới. Trong ngành công nghiệp dầu hỏa muốn sản xuất thêm là một chuyện, có làm được việc đó hay không lại là chuyện khác ».  Gần hai tuần sau vòng công du Trung Đông đưa tổng thống Biden đến Israel, Cisjordanie và Ả Rập Xê Út, Riyad dường như vẫn chưa đáp ứng nguyện vọng của « đồng minh » Mỹ. Báo Washington Post đặt câu hỏi : Vậy thì có « bõ công để tổng thống Biden đi sang tận Trung Đông hay không ? », nhất là khi mà quan hệ giữa Riyad và Washington vẫn trong thời kỳ băng giá. Francis Perrin phân tích : Francis Perrin : « Ả Rập Xê Út hiện đang lạnh nhạt với Mỹ. Trong những tháng gần đây, cả Ả Rập Xê Út lẫn Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất muốn gửi một thông điệp mạnh đến Joe Biden. Một cách gián tiếp hai vương quốc này chỉ trích Mỹ không quan tâm đến lợi ích của Ryiad cũng như Abou Dahbi. Cả hai cùng chỉ trích Washington muốn các đối tác vùng Vịnh này sản xuất và xuất khẩu nhiều dầu hỏa hơn để làm hạ nhiệt thị trường, nhưng đồng thời Mỹ lại đàm phán về hạt nhân với Iran, kẻ thù không đội trời chung của Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. Đương nhiên không ai chính thức nêu ra điều đó, nhưng mọi người cùng hiểu rằng đây là một thông điệp ngầm. Ả Rập Xê Út đủ sức để sản xuất nhiều hơn. Ryiad là một trong những đối tác hiếm hoi có khả năng mở van dầu. Nhưng vương quốc này có muốn chiều lòng Mỹ hay không là còn tùy thuộc vào quan hệ với Washington và do vậy thị trường dầu lửa đã theo dõi kỹ chuyến công du hồi giữa tháng 7 vừa qua của tổng thống Joe Biden ».  Chìa khóa năng lượng của thế giới vẫn ở Matxcơva Trong khi đó, tại Matxcơva, tổng thống Vladimir Putin vẫn tiếp tục làm mưa làm gió với chìa khóa đóng hay mở van dầu hỏa và khí đốt đổ vào châu Âu. Nga đã lần lượt ngưng cung cấp khí đốt cho một số thành viên Liên Hiệp Châu Âu, như Ba Lan, Bulgari, rồi Hà Lan … và đang đe dọa luôn cả Đức. Đường ống dẫn khí Nord Stream 2 đã ngừng hoạt động từ khi quân Nga tràn vào lãnh thổ Ukraina. Còn Bắc Hải Lưu 1 mặc dù đã giảm công suất, tập đoàn quản lý Nord Stream 1 là Gazprom trong tháng 6 vừa qua đã hai lần ngưng cung cấp cho khách hàng vì lý do « kỹ thuật ». Bước sang tháng 7, Nord Stream 1 « tạm ngừng » hoạt động trong hơn 1 chục ngày để trùng tu. Nhưng đến những ngày cuối tháng, Gazprom mạnh tay khóa van này thêm một nấc. Châu Âu lại thêm « khát » dầu của Nga. Chuyên gia về năng lượng của trung tâm nghiên cứu Bruegel tại vương quốc Bỉ, ông Simone Tagliapietra, đánh giá đây là một đòn hiểm để Nga kiếm lời : Simone Tagliapietra: « Lý do là Nga dùng khí đốt để làm mưa làm gió với thế giới. Như vậy, giá cả trồi sụt thất thường. Cứ mỗi lần Nga tuyên bố giảm lượng xuất khẩu, giá khí đốt lại tăng thêm 10 %. Điều đó có lợi cho Matxcơva, cho phép thu nhập cao hơn một chút. Hiện tại khối lượng xuất khẩu của Nga sang châu Âu chỉ bằng 1/3 so với trước chiến tranh Ukraina. Hơn thế nữa, giá năng lượng bị đẩy lên cao gây thiệt hại cho kinh tế của các nước châu Âu. Chủ trương của Matxcơva là bắt châu Âu trả giá cho việc trừng phạt Nga, vì năng lượng đắt đỏ, vật giá leo thang. Nga muốn rằng, sau cùng, vì chịu không nổi, các nước châu Âu sẽ phải dỡ bỏ hoặc giảm nhẹ các trừng phạt Nga. Đó là nước cờ của Kremlin và đừng quên rằng đây cũng là một cuộc chiến tranh kinh tế. Chính trên mặt trận này Liên Hiệp Châu Âu phải có cùng một tiếng nói ».  Chiến tranh Ukraina chưa biết đi về đâu và cũng không biết đến khi nào mới hy vọng kết thúc, nhưng rõ ràng là trong chưa đầy nửa năm, bàn cờ năng lượng thế giới đang được vẽ lại : Châu Âu hối hả đi tìm những nguồn cung ứng mới, quan tâm trở lại đến châu Phi, hay Trung Á, từ Algeri đến Senegal hay Azerbaijan… Mỹ dễ dàng quên đi những cam kết về nhân quyền để làm hòa với Ả Rập Xê Út và thậm chí cũng không còn gay gắt với Venezuela như hơn một năm trước đây. Trung Quốc, Ấn Độ trở thành những điểm tựa của ngành dầu khí Nga. Dầu hỏa Iran có phần « mất giá » trong mắt Bắc Kinh, khi mà Trung Quốc có một thỏa thuận « không giới hạn » trong việc hỗ trợ Matxcơva. Ở Kiev, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky liên tục kêu gọi phương Tây « tăng cường các biện pháp trừng phạt, cấm vận » Nga, cho dù một phần dầu khí của các tập đoàn Nga vẫn được xuất khẩu qua các đường ống băng ngang lãnh thổ Ukraina.

9m
Aug 02
Subprime : Trung Quốc trước đe dọa khủng hoảng tín dụng địa ốc

Kịch bản khủng hoảng tín dụng địa ốc tái diễn, nhưng lần này là tại Trung Quốc ? Thị trường bất động sản bên bờ vực thẳm : 80 tỷ đô la trị giá cổ phiếu bốc hơi. Các tập đoàn tên tuổi trong ngành địa ốc lần lượt tuyên bố vỡ nợ. Hàng trăm ngàn người « nổi dậy » ngừng tiếp tục góp tiền « nuôi » ngành xây dựng. Ngân Hàng Trung Ương chuẩn bị lập quỹ hỗ trợ lĩnh vực bất động sản cao gần gấp 4 lần so với dự tính ban đầu. Vào lúc 2 trong số 3 đầu máy tăng trưởng của nền kinh tế thứ 2 toàn cầu là xuất khẩu và đầu tư nước ngoài đã bị « hỏng », Bắc Kinh bằng mọi giá phải tránh nguy cơ thị trường bất động sản sụp đổ. Trước Đại Hội Đảng vào mùa thu 2022, khủng hoảng nhà đất sẽ là một tai họa về mặt kinh tế và xã hội tại một quốc gia mà ngành địa ốc và xây dựng đem về đến 25 % cho GDP. Địa ốc: Bắc Kinh sợ phỏng tay ?  Hãng tin Anh Reuters ngày 25/07/2022, trích dẫn một quan chức thuộc Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc xin được giấu tên, cho biết Bắc Kinh « dự trù nâng quỹ hỗ trợ bất động sản lên 300 tỷ nhân dân tệ, tương đương với 44 tỷ đô la Mỹ, thay vì 80 tỷ như đã thông báo cách nay vài tuần ». Trước đó, hôm 17/07/2022, Ủy Ban Điều Tiết Bảo Hiểm và Ngân Hàng Trung Quốc đã kêu gọi « mở van tín dụng », « cứu » ngành xây dựng và các các công ty môi giới bất động sản. Giới quan sát xem đây là một tín hiệu mới cho thấy chính quyền Tập Cận Bình thực sự không còn dám lơ là : thị trường địa ốc Trung Quốc trong cảnh « dầu sôi lửa bỏng ». Từ đầu năm đến nay, Bắc Kinh đã hai lần hạ lãi suất ngân hàng, khuyến khích tiêu thụ, một số chính quyền địa phương trợ cấp cho các hộ gia đình mua nhà, đặc biệt là mua nhà mới trên dự án. Nhưng những biện pháp đó vẫn chưa đủ để xua tan mối đe dọa khủng hoảng. Trên đài RFI Pháp ngữ, chuyên gia PhápJean - François Di Meglio, chủ tịch trung tâm nghiên cứu về châu Á, Asia Centre, trụ sở tại Paris, trước hết lưu ý, Trung Quốc đang trải qua nhiều cuộc khủng hoảng cùng lúc và Covid-19 là cột mốc quan trọng : « Trung Quốc đi trước thế giới trong cuộc khủng hoảng y tế do virus xuất phát từ quốc gia này và như vậy đã có một sư chuẩn bị nào đó để đối phó với dịch. Kế tới, mọi người đã tưởng Bắc Kinh làm chủ được tình hình. Đặc biệt là vào thời điểm kinh tế Trung Quốc nhanh chóng lấy lại thăng bằng trong cả năm 2020 và 2021, khi mà cả thế giới còn lao đao. Bước sang mùa xuân năm nay, tình thế đã thay đổi : Trung Quốc đội bảng, trong lúc mọi nơi khác đã hoạt động lại gần như bình thường. Đà phục hồi của Trung Quốc bị chậm so với phần còn lại của thế giới ». Trong một bài tham luận gần đây, François Godement, cố vấn của viện nghiên cứu Montaigne Paris đã nói tới tình cảnh « Trung Quốc bị hỏng hai đầu máy tăng trưởng » : đầu tư nước ngoài giảm mạnh từ năm 2020 do Bắc Kinh xây « vạn lý trường thành » y tế, cách ly với thế giới bên ngoài để chống dịch Covid-19. Xuất khẩu là đầu máy thứ nhì bảo đảm đem về tăng trưởng cho quốc gia 1,5 tỷ dân này, nhưng ngay cả đầu máy đó cũng bắt đầu có dấu hiệu bị chựng lại. Jean - François Di Meglio phân tích : « Nguyên nhân thứ nhì gây lo ngại là, dù muốn hay không, kinh tế toàn cầu cũng bị chựng lại vì chiến tranh Ukraina. Cần biết rằng, đến nay, đà phục hồi của Trung Quốc sở dĩ vững vàng, trong suốt năm 2021 và cho đến tận những tháng đầu của năm 2022 là nhờ vào xuất khẩu. Xuất khẩu kéo kinh tế Trung Quốc đi lên. Thặng dư mậu dịch thậm chí đạt kỷ lục, vì thế giới cần hàng Trung Quốc, trong lúc mà nhập khẩu có phần giảm sút vì GDP tăng chậm lại. Giờ đây, do tác động chiến tranh, nếu như con tàu kinh tế của thế giới chựng lại, các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ bị vạ lây : nhập khẩu của thế giới giảm sút sẽ làm hỏng đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc ». Còn lại cột trụ thứ ba là tiêu thụ nội địa của nước đông dân nhất địa cầu. Nhưng ngay cả đầu máy còn lại này cũng đang bị các đợt phong tỏa liên tiếp nhắm vào hàng chục triệu người dân Trung Quốc đe dọa. Địa ốc là một trong những nạn nhân trực tiếp. Theo thẩm định của Gavekal Dragonomics, một cơ quan phân tích có trụ sở tại Bắc Kinh, có khoảng 100 triệu căn hộ do các nhà đầu cơ làm chủ tại Trung Quốc đang bị bỏ trống, 30 triệu khác do các công ty môi giới nắm giữ. Thị trường bất động sản Trung Quốc tuột dốc trong trong 12 tháng liên tiếp. Tháng 6/2022 giảm 43 % so với một năm trước đây. Có từ 5% đến 25 % các căn hộ bị bỏ trống. Có đến 24 trong số các tập đoàn lớn nhất trong ngành tại Trung Quốc bị đe dọa « mất khả năng thanh toán », theo thẩm định của hãng tin Mỹ, Bloomberg. Trên toàn quốc, có từ 5% đến 20 % các công trình bị bỏ dở, vì các chủ thầu thiếu tiền mua vật liệu, thiếu tiền trả cho công nhân … Sau Evergrande hồi tháng 9/2021, mùa hè năm nay đến lượt tập đoàn Shimao, trụ sở tại Thượng Hải, mất khả năng thanh toán 1 tỷ đô la Mỹ nợ đáo hạn và phải cấp tốc tìm ra thêm 2 tỷ đô la nữa để thanh toán cho các chủ nợ từ nay đến cuối năm. Evergrande, Shimao hay Sunak … là 3 trong số 6 đại công ty bất động sản Trung Quốc, vừa bị khai trừ khỏi bảng yết giá trên sàn chứng khoán Hồng Kông vì không công bố đúng thời hạn tổng kết tình hình tài chính năm 2021. Đem tỏi và dưa hấu đi mua nhà Họa vô đơn chí, hàng trăm ngàn thân chủ của 80 công ty môi giới bất động sản trên toàn quốc « nổi loạn » tuyên bố ngừng thanh toán các khoản trả góp cho tới khi nào họ được giao nhà. « Phong trào » đã lan rộng tới gần 100 tỉnh thành, liên quan đến hơn 300 công trình đang xây dựng nửa chừng. Thái độ phản kháng từ phía người trả góp những căn hộ mua trên dự án đẩy giới trong ngành vào cảnh thiếu hụt hơn 300 tỷ đô la. Ngành xây dựng, giới chủ thầu và cã hãng môi giới bất động sản tuyệt vọng tới nỗi, sau khi đã rao bán nhà và tặng không một chỗ đậu xe trong chung cư, hay lắp máy điều hòa miễn phí … ở tình Hà Nam chẳng hạn, một số công ty cho phép khách hàng « trả góp » bằng hàng trăm tấn tỏi, hay dưa hấu. Chủ tịch trung tâm nghiên cứu về châu Á, Asia Centre nhắc lại : « Hiện tượng tất cả các tập đoàn môi giới nhà đất nợ nần chồng chất đã lộ rõ kể từ vụ Evergrande và bắt đầu được phơi bày ra ánh sáng cách nay khoảng 9 tháng. Dân Trung Quốc đã ưu tiên đầu tư vào địa ốc, họ đua nhau đi mua nhà và đổ vào đấy tất cả tiền tiết kiệm. Cũng phải nói rằng đây là một trong những lĩnh vực duy nhất dân chúng có thể đầu tư. Từ 35 năm nay, giá nhà đất tại Trung Quốc không ngừng tăng lên. Nhưng rồi, thị trường đột ngột bị chựng lại, giá cả giảm sút. Tư nhân, những người mà từ trước đến nay dễ dàng đổ tiền vào để nuôi các công ty môi giới nhà đất và các đại tập đoàn xây dựng Trung Quốc, ngưng thanh toán. Người ta đòi ‘tiền trao, cháo múc’. Thế là cả một hệ thống đang hoạt động tốt, bị chựng lại. Các công ty môi giới lần lượt vỡ nợ, bởi vì tư nhân không muốn đầu tư vào địa ốc nữa ». Dập tắt phẫn nộ của giới trung lưu vướng nợ nhà đất Như vừa nói, giá nhà đất tại Trung Quốc đã liên tục tăng, và đã tăng đến mức chóng mặt, trong hơn ba thập niên qua. Đây cũng là phương tiện duy nhất để ai cũng có thể kiếm lời, là một loại bảo hiểm tài chính đáng tin cậy nhất của giới trung lưu. Cũng hãng tin Mỹ Bloomberg thẩm định, trung bình bất động sản chiếm khoảng 70 % tài sản của một hộ gia đình (không ít trong số đó tậu nhà để đầu cơ). Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với tại Mỹ hay Châu Âu. Thị trường nhà đất mất giá, tài sản của tầng lớp này qua đó cũng « bốc hơi theo ». Như giáo sư Alfred Wu, đại học Lý Quang Diệu tại Singapore, nói : « Người Trung Quốc thường huy động vốn của cả một gia đình để đầu tư vào nhà đất. Nếu như căn nhà hay căn hộ của họ mất giá, thì đây là một vấn đề sinh tử ».  Trước Đại Hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc tháng 11/2022, làn sóng phẫn nộ này bất ngờ bắt ông Tập Cận Bình phải phản ứng kịp thời,  để dập tắt mọi mầm mống bất mãn trong xã hội. Khủng hoảng tín dụng và thị trường bất động sản đe dọa trực tiếp đến cam kết xây dựng một xã hội « thịnh vượng chung » ông đã đề ra. Do vậy, tất cả các chuyên gia đều quả quyết là bằng mọi giá, Bắc Kinh phải duy trì « ổn định » vào lúc họ Tập có tham vọng điều hành đất nước thêm một nhiệm kỳ thứ ba - và có thể là giữ chức chủ tịch Trung Quốc mãn đời. Để đổi lấy sự « ổn định trong xã hội đó », Bắc Kinh phải làm gì ? Chuyên gia Di Meglio trả lời : « Sẽ có những quyết định đau đớn. Ở cấp cá nhân, một số người đã từ chối tiếp tục trả góp cho các nhà thầu. Điều đó có nghĩa là họ có thể mất trắng số tiền mà tới nay đã nộp cho các công ty môi giới. Ở cấp nhà nước, chính quyền không thể cứu hết tất cả các tập đoàn xây dựng và các công ty môi giới nhà đất. Họ buộc phải chọn ‘cứu ai, bỏ ai’. Có nhiều khả năng chính phủ sẽ cứu những hãng quá lớn, hay là tương đối còn có một chút khả năng tài chính để chống chọi với khủng hoảng. Với những tập đoàn mà thân chủ đã từ chối trả góp, thì có thể là nhà nước sẽ can thiệp, bù vào khoảng trống tài chính đó. Như vậy tiếp sức cho ngành địa ốc. Song vấn đề còn nguyên vẹn : hàng trăm, hàng ngàn tòa nhà cao tầng xây xong coi như là tài sản của các ngân hàng, nhưng giá trị của chúng là bao nhiêu khi mà thị trường địa ốc ách tắc, giá cả đổ dốc ? Kịch bản khủng hoảng tín dụng địa ốc, subprime ở Hoa Kỳ năm 2007 tái diễn ». Dù vậy giám đốc trung tâm nghiên cứu Asia Centre Jean-François Di Meglio không tin là khủng hoảng tín dụng địa ốc phiên bản Trung Quốc sẽ xảy ra, bởi vì « chủ trương cố hữu của Bắc Kinh là làm tất cả để cố gắng giữ một thế cân bằng nào đó, tránh để nổ ra khủng hoảng như ở Mỹ. Vụ subprime hồi 2007 ở Mỹ đã dẫn tới vụ Lehman Brothers. Rồi khủng hoảng tài chính này lan ra toàn cầu.Hoa Kỳ là một nền kinh tế mở rộng, ngành tài chính, các nhân hàng Mỹ liên hệ với toàn thế giới. Các ngân hàng Trung Quốc thì không, nhờ vậy khủng hoảng địa ốc hay tài chính Trung Quốc sẽ không tác động trực tiếp đến tài chính của thế giới ». Chuyên gia Pháp kết luận : Bắc Kinh có nhiều phương tiện để tránh một cuộc khủng hoảng kép từ thị trường địa ốc lan sang tài chính, ngân hàng Trung Quốc. Nhìn xa hơn, có nhiều khả năng Trung Quốc đi theo mô hình của Nhật : đầu thập niên 2000, Nhật Bản cũng đã trải qua một cuộc khủng hoảng địa ốc. Chính phủ đã can thiệp. Mất 20 năm, ngành địa ốc Nhật mới đi vào quy củ. Chưa thể nói là lĩnh vực này khởi sắc trở lại nhưng đã lấy lại cân bằng, và tình hình không đến nỗi tệ.

9m
Jul 26
Pháp : Bảo đảm nguyên liệu thiết yếu cho năng lượng hạt nhân, bài toán nan giải

Ngày 10/02/2022, hai tuần trước chiến tranh Ukraina, từ thành phố Belfort, miền đông nước Pháp, tổng thống Emmanuel Macron công bố chiến lược năng lượng với trọng tâm là phát triển điện hạt nhân, xây dựng thêm 6 lò phản ứng thế hệ mới. Để đạt mục tiêu đó, Paris phải vượt qua nhiều thách thức, chủ yếu là bảo đảm nguồn cung cấp "kim loại thiết yếu". Gần nửa năm sau, một phần lớn châu Âu hoảng hốt trước viễn cảnh mất nguồn cung cấp chính về dầu lửa và khí đốt của Nga. Đức đang « trả giá đắt vì lệ thuộc vào năng lượng của Nga », GDP có nguy cơ sụt giảm do các nhà máy sản xuất bị mất điện một khi Matxcơva khóa van dầu và khí đốt. Pháp đỡ lo hơn một chút nhờ các nhà máy điện hạt nhân vẫn hoạt động và điện hạt nhân vẫn bảo đảm đến 53 % nhu cầu tiêu thụ của cả nước, theo thống kê của bộ Môi Trường. Thế nhưng, hiện tại, gần một nửa các lò phản ứng của Pháp (29 trong số 56) đã ngưng hoạt động để trùng tu hay kiểm tra về mức độ an toàn. Uranium và bốn kim loại "thiết yếu" Trong bối cảnh đó tổng thống Macron đã loan báo kế hoạch khôi phục ngành điện hạt nhân để tìm lại sự « tự chủ » về năng lượng cho nước Pháp, nền công nghiệp lớn thứ hai trong Liên Âu. Nhưng con đường còn dài, bởi Pháp lệ thuộc đến 100 % vào nhiên liệu chính là uranium nhập từ nước ngoài. Theo báo Le Monde (24/01/2022), chỉ riêng Tập đoàn Điện lực Pháp EDF cần từ 8.000 đến 10.000 tấn uranium tự nhiên một năm. Ba trong số các nhà xuất khẩu chính cho Pháp là Kazakhstan, Úc và Niger.    Thách thức thứ nhì : để một nhà máy điện hạt nhân hoạt động, uranium không chỉ là nhiên liệu duy nhất. Trong một hội thảo qua video, do IRIS ( Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược ) tổ chức hồi tháng 4/2022, chuyên gia về nguyên tử, giáo sư địa lý - địa chính trị đại học Haute Alsace, Teva Meyer, giải thích, ngoài uranium, ngành công nghiệp điện hạt nhân còn cần đến những « kim loại thiết yếu » khác như là hafnium, indium, niobium hay zirconium ở các công đoạn khác nhau. Theo định nghĩa của giới chuyên gia, các nhiên liệu được coi là thuộc hàng « thiết yếu » hoặc mang tính « chiến lược » khi mà chúng có thể làm tê liệt cả guồng máy công nghiệp, hay toàn bộ hệ thống kinh tế của một quốc gia nếu như vì một lý do nào đó các nguồn xuất khẩu bị cắt đứt. Ngoài ra, cả bốn kim loại « thiết yếu » đối với công nghiệp điện hạt nhân, tỷ lệ được sử dụng trong các nhà máy và các lò phản ứng tuy rất thấp, chỉ từ 3 đến 5 %, nhưng đó phải là những kim loại đã được lọc ở mức độ rất cao. Kỹ thuật đó không phải ai cũng có được. Do vậy yếu tố địa chính trị rất quan trọng trong chiến lược phát triển điện hạt nhân.    Teva Meyer : « Để hoạt động, một trung tâm điện lực cần hai yếu tố : một là nguyên liệu để đốt, tức là uranium và một số những nguyên liệu khác để thiết kế ống kim loại được hàn kín. Những ống kim loại đó cần chất tạo hợp kim zirconium và niobium. Yếu tố quan trọng thứ nhì là các thanh điều khiển cho phép kiểm soát tốc độ phân hạch của uranium. Các thanh điều khiển này được làm ra từ ba thứ, gồm khoáng chất boron, hợp kim bạc có độ dẫn nhiệt cao, và kim loại hafnium, hay còn gọi là hafni. Hafni hấp thụ neutron và được tìm thấy trong các khoáng vật zirconium. Do vậy, để một lò phản ứng có thể hoạt động cần có một số kim loại để làm ra thanh kiểm soát tốc độ phân hạch hay các ống kim loại bọc uranium. Các kim loại đó mang tính chiến lược ».     Công nghệ lọc kim loại Thêm một điểm quan trọng khác: các chất từ zirconium đến indium hay niobium, hafnium sử dụng trong công nghiệp điện hạt nhân cần có độ lọc rất cao. Giáo sự Meyer nhấn mạnh đó là một công nghệ mà chỉ có một số ít quốc gia đang làm chủ. Teva Meyer : « Đặc điểm của ngành năng lượng hạt nhân là đòi hỏi các kim loại vừa nêu phải được sàng lọc ở một mức độ rất tinh vi. Vấn đề địa chính trị đặt ra ngay lập tức chung quanh hai câu hỏi : quốc gia nào có khả năng lọc các kim loại nói trên ? Và các nhà máy lọc đó được đặt ở đâu ? » Nguy cơ bị cắt nguồn cung ứng Lĩnh vực hạt nhân chỉ tiêu thụ một phần nhỏ các kim loại thiết yếu như hafnium, indium, niobium và zirconium. Tuy nhiên, lo lắng hàng đầu của các quốc gia sử dụng điện hạt nhân là nguy cơ bị cắt nguồn cung ứng xuất phát từ xung đột địa chính trị.  Teva Meyer : « Trước hết là rủi ro về mặt địa chất, tức là có dễ tìm thấy các kim loại thiết yếu đó hay không. Câu trả lời là có. Chúng ta không lo thiếu hafnium hay zirconium… để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của các lò phản ứng. Tuy nhiên, câu hỏi kế tiếp là các kim loại đó tập trung ở khu vực nào ? Đây quả thực là một vấn đề. Thí dụ như Brazil kiểm soát từ 80 đến 90 % các mỏ niobium trên thế giới. Còn zirconium thì chủ yếu tập trung ở Nam Phi và Úc. Yếu tố thứ ba là ai làm chủ các khâu khai thác và nhất là kỹ thuật lọc các kim loại đó ở mức độ rất cao, để có thể đưa vào các lò phản ứng ? Trong trường hợp của hafni, chỉ có hai đối tác trên thế giới là Pháp và Mỹ. Hai quốc gia này gần như trong thế độc quyền, kiểm soát 100 % thị trường xuất khẩu hafni. Rủi ro sau cùng là áp lực xã hội và môi trường. Ngoài Nam Phi và Úc còn có nhiều quốc gia trên thế giới cũng có zirconium, nhưng từ chối khai thác, vì những áp lực trong xã hội, vì không muốn gây ô nhiễm môi trường … Tất cả những rủi ro vừa nêu đều có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng ».     Trong trường hợp của Brazil, có tới gần 90 % dự trữ niobium toàn cầu, và Brazil cũng là nguồn sản xuất chính cho thế giới, nhưng đó chỉ là niobium nguyên chất. Trung Quốc, Hàn Quốc giàu về indium cần thiết cho công nghiệp chế tạo các ống kim loại bao quanh các thanh nhiên liệu uranium trong các lò phản ứng. Cả hai quốc gia châu Á này cùng khai thác indium, chiếm chưa đầy 25 % thị phần quốc tế. Để bảo đảm nguồn cung ứng về zirconium, một quốc gia tiêu thụ điện hạt nhân như Pháp cần duy trì quan hệ tốt với Úc : Canberra kiểm soát hơn 50 % dự trữ zirconium trên thế giới và là nguồn cung cấp đến 1/3 zirconium nguyên chất cho toàn cầu. Canada và Đức, cả hai cùng làm chủ nhiều mỏ indium, nhưng lại không phát triển công nghiệp khai thác kim loại này, dưới tác động của các hội đoàn bảo vệ môi trường. David Amsellem, chuyên gia về địa lý và cũng là đồ họa viên, đồng sáng lập văn phòng tư vấn Cassini Conseil, Paris, căn cứ vào các bản đồ, đã chỉ ra rằng Pháp không làm chủ các mỏ kim loại thiết yếu cho điện hạt nhân, nhưng lại có một lá chủ bài rất lớn để kiểm soát thị phần thế giới trong một số lĩnh vực. David Amsellem : « Ngành công nghiệp điện hạt nhân đòi hỏi các kim loại thiết yếu phải có mức độ sàng lọc rất tinh vi và kỹ thuật đó không phải ai cũng có được. Các quốc gia nào làm chủ công nghệ lọc kim loại thiết yếu ? Trên bàn cờ này, Châu Mỹ Latinh, châu Phi hoàn toàn vắng mặt. Thậm chí ngay cả Úc cũng đã bị loại. Thay đổi quan trọng ở đây là Pháp, dù không có tên trong số các quốc gia có mỏ kim loại thiết yếu cho điện hạt nhân, nhưng lại là một trong hai nguồn cung cấp chính cho các nhà máy điện hạt nhân của toàn thế giới. Mỹ đứng đầu với tổng cộng 13 nhà máy lọc kim loại thiết yếu, Pháp có 6 nhà máy, Đức cũng có 3 cơ sở, Áo có 2. Tuy nhiên, sau giai đoạn sàng lọc, Pháp là nguồn cung cấp hafnium và zirconium quan trọng nhất, theo thứ tự chiếm hơn 50 và 25 % thị phần toàn cầu. Pháp và Mỹ gần như thống lĩnh 100 % thị trường thế giới về hafnium. Trung Quốc có nhiều nhà máy lọc kim loại hơn cả Mỹ, nhưng chủ yếu tập trung vào indium. Cùng với Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc cũng là các nguồn cung ứng indium lớn cho các nhà máy điện hạt nhân trên toàn cầu ». Pháp có một lá chủ bài lớn Cũng ông David Amsellem lưu ý : Ấn Độ, Nga có nhiều nhà máy lọc kim loại thiết yếu, song lại hoàn toàn vắng mặt trong số các nguồn cung cấp cho thế giới. Phải chăng Matxcơva và New Delhi theo đuổi chiến lược chỉ sản xuất để đáp ứng nhu cầu nội địa ? Nga, Pháp và Ấn Độ, mỗi quốc gia có một nhà máy lọc hafnium, thế nhưng trong lúc Pháp chiếm hơn 50 % thị phần quốc tế,  xuất khẩu của Nga và Ấn Độ gần như ở mức zero, theo giải thích của Teva Meyer. Teva Meyer : « Lý do thực ra tương tự như trong trường hợp của Nga, hay Trung Quốc, Ấn Độ đều chủ trương tự túc và độc lập, không phụ thuộc vào kim loại thiết yếu của thế giới trong ngành điện hạt nhân. Ưu tiên của những quốc gia này là thị trường nội địa ». Liên Hiệp Châu Âu từ năm 2011 có hẳn một cơ quan phụ trách về vấn đề « quản lý nhiên liệu thiết yếu », và danh sách của châu Âu được cập nhật cứ ba năm một lần. Là một quốc gia phải nhập khẩu gần như tòa bộ kim loại thiết yếu nguyên chất, Pháp đã lập ra ủy ban COMES từ 2015 công bố danh sách những « kim loại cần thiết cho kinh tế quốc gia, cho sự tự chủ về năng lượng, quốc phòng ». Đó cũng là kim chỉ nam trong chính sách ngoại giao của Paris với một số quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên.

9m
Jul 19
Trung Quốc đã vận dụng hết những đòn bẩy kinh tế ?

Hai trong số ba đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc đã bị « hỏng ». Gần đến Đại Hội Đảng, những đám mây đen bao phủ lên kinh tế Trung Quốc càng lúc càng nhiều. Bắc Kinh có phép lạ nào để đảo ngược tình thế ? Theo giáo sư Jean - François Huchet, Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương INALCO của Pháp, một trong những chìa khóa chính là sức mua của hơn một tỷ dân này. Ngày 15/06/2022 Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thông báo tăng trưởng trong quý 1/2022 cao hơn mong đợi. Kèm theo đó là một loạt những con số minh họa cho điều này : xuất khẩu thực sự phục hồi cho dù nhiều nhà máy tại các khu công nghiệp phải đóng cửa trong nhiều tuần lễ hay cảng Thượng Hải bị ách tắc vì hơn một tháng phong tỏa nghiêm ngặt. Chưa đầy ba tuần sau, thủ tướng Lý Khắc Cường cảnh báo « kinh tế khởi sắc trở lại » nhưng « nền tảng của đà phục hồi đó còn mong manh ». Cũng trong tháng 6/2022 chính phủ ban hành hơn 30 biện pháp « mạnh » hỗ trợ kinh tế. Hãng tin Mỹ Bloomberg ngày 07/07/2022 tiết lộ, trong quý 2 này, bộ Tài Chính Trung Quốc chuẩn bị bơm thêm hơn 220 tỷ đô la dưới dạng công trái phiếu. Số tiền đó sẽ được dùng vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ « một nền kinh tế đang bị hụt hơi ». Bất luận tình hình ra sao, « trước Đại Hội Đảng, kinh tế phải tươi sáng » Hình ảnh nhà hàng nổi Hồng Kông Jumbo chìm ở Biển Đông hôm 19/06/2022 được một số người sử dụng internet coi là điềm gở báo trước một nền kinh tế khổng lồ như của Trung Quốc cũng có thể bị « nhận chìm ». Vụ việc diễn ra vào lúc kinh tế Hồng Kông và nhiều thành phố lớn tại Hoa lục lao đao vì những đợt phong tỏa chống dịch nghiêm ngặt liên tục được ban hành. Bắc Kinh nhìn nhận, Omicron « tấn một đòn mạnh hơn » vào tăng trưởng so với hồi đầu 2020 khi dịch bệnh mới bùng phát từ Vũ Hán.   Chuyên gia Larry Hu thuộc quỹ đầu tư Úc Macquarie cho rằng, ngay cả mục tiêu tăng trưởng 5,5 % rất khiêm tốn đề ra cũng đang « ngoài tầm với ». Một nhóm chuyên gia được AFP và Reuters tham khảo dự báo, trong trường hợp khả quan nhất, GDP Trung Quốc năm nay tăng từ 4,3 đến 4,4 %. Cơ quan thẩm định tài chính Mỹ, « nặng tay hơn » với dự phóng tăng trưởng của Trung Quốc trong năm 2022 chỉ đạt 3,7 %. Từ tháng 3/2022 biến thể Omicron thách thức Bắc Kinh và chủ trương Zero Covid. Gần như cùng lúc, từ Thẩm Quyết đến Thượng Hải, các nhà máy, văn phòng phải đóng cửa. Hàng trăm triệu dân tại những vùng có sức mua cao nhất, chỉ « tiêu thụ một cách cầm chừng » như cơ quan từ vấn IHS Markit ghi nhận. Trong tháng 3/2022 chỉ số tiêu thụ tại Trung Quốc giảm 3,5 % so với cùng thời kỳ năm ngoái và đã tiếp tục giảm đi thêm 11 % rồi 6,7 % vào tháng 4 và tháng 5/2022. Bốn tháng trước Đại Hội Đảng, lãnh đạo Trung Quốc đang phải chạy đua với thời gian, để khởi động lại cỗ máy kinh tế. Ông Vương Đan (Dan Wang), kinh tế gia thuộc ngân hàng Hằng Sinh (Hang Seng Bank) tại Thượng Hải,  dự báo « tăng trưởng chắc chắn phải tăng vọt trong quý hai bởi không thể chấp nhận những thông tin xấu vào thời điểm diễn ra Đại Hội Đảng ». Trả lời đài RFI tiếng Việt giáo sư Jean François Huchet, Viện Ngôn Ngữ và Văn Hóa Đông Phương INALCO cho rằng Trung Quốc đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm và những trồi sụt bất thường sẽ liên tục diễn ra ngày nào virus corona còn hoành hành dưới những biến thể khác nhau và Bắc Kinh còn áp dụng chính sách bài trừ triệt để dịch Covid.   Jean –François Huchet : « Chúng ta thấy rõ là chính phủ Trung Quốc đang cố gắng tìm một hướng đi mới để  hạn chế những tác động về kinh tế bắt nguồn từ các đợt phong tỏa chống dịch. Nhưng ít có khả năng về lâu dài Bắc Kinh từ bỏ chủ trương Zero Covid và như vậy kinh tế Trung Quốc sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn ». Julian Evans Pritchard, thuộc cơ quan tư vấn Capital Economics của Anh được báo la Tribune (số ra ngày 18/04/2022) trích dẫn đánh giá : « Có khả năng Trung Quốc thẩm định không đúng mức tác động của các đợt phong tỏa đè nặng lên kinh tế » và Trung Quốc theo ông, « không có sức kháng cự mạnh mẽ » như thông điệp mà Bắc Kinh cố gắng đưa ra qua hàng loạt các thống kê chính thức.   Thất nghiệp, hậu quả ngay trước mắt Le Monde trong ấn bản ngày 04/07/2022 lưu ý độc giả : chưa bao giờ tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc trong độ tuổi dưới 25 lại cao như hiện tại. Hơn 18 % không có việc làm. Mỗi năm có thêm khoảng 11 triệu thanh niên Trung Quốc gia nhập thị trường lao động. Chính quyền thêm đau đầu trước thách thức giải quyết thất nghiệp trong bối cảnh mà thị trường địa ốc đang lún sâu vào khủng hoảng : lĩnh vực vốn đem lại đến 1/4 tăng trưởng cho cả nước, trong tháng 6/2022 đã trông thấy các dịch vụ mua bán giảm đi mất gần 60 % so với một năm trước đây. Một cửa ngõ khác đưa thanh niên Trung Quốc vào thị trường lao động là thế giới tin học, công nghệ cao, các dịch vụ internet cũng đang dần dần bị khép lại : Alibaba thông báo kế hoạch sa thải 15 % nhân sự, và như vậy 39.000 nhân viên sẽ mất việc làm. Tencent chuẩn bị cho từ 10 đến 15 % nhân viên nghỉ việc. Chính sách kiểm duyệt về nội dung các chương trình giáo dục của Bắc Kinh khiến 84 % các trường dậy thêm trực tuyến phải đóng cửa. Trường tư nổi tiếng nhất New Oriental vừa sa thải 60.000 thầy cô giáo. Trong bối cảnh đó những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp Trung Quốc mới ban hành hồi cuối tháng 6/2022 không chắc đủ sức đem lại tăng trưởng cho nước đông dân nhất địa cầu. Giáo sư Huchet, Viện INALCO phân tích : Jean –François  Huchet : « Từ lâu nay người ta đã xác định được những thách thức về mặt cơ cấu. Trung Quốc đã bước vào giai đoạn tăng trưởng không còn cao như trong giai đoạn kinh tế nước này cất cánh. Có nhiều nguyên nhân giải thích cho sự chựng lại này : Một là yếu tố về dân số, lực lượng lao động không còn năng động như trước nữa. Thứ hai là năng suất giảm so với ở những thập niên 1980-1990-2000. Bắc Kinh ý thức được nhược điểm nay nên đã đầu tư nhiều vào các công nghệ mới nhưng năng suất của Trung Quốc vẫn không mạnh bằng hồi 20-30 năm trước đây. Thêm vào đó, các cơ sở hạ tầng, địa ốc đang bị bão hòa. Trung Quốc không còn cần xây dựng nhiều và với nhịp độ chóng mặt như trong quá khứ nữa. Nói cách khác Bắc Kinh không còn có thể trông cậy vào tất cả những gì đã tạo nên phép lạ kinh tế Trung Quốc. Thêm vào đó là những vấn đề mang tính nhất thời, như dịch Covid-19, hay chiến tranh Ukraina đẩy giá năng lượng, nguyên liệu lên cao. Những khó khăn của Trung Quốc thêm chồng chất ». Trong bài nghiên cứu đăng trên trang mạng của Viện Montaigne, Paris, chuyên gia về Trung Quốc François Godement không phủ nhận khắc phục hậu quả Covid-19, đối mặt với những khó khăn do khủng hoảnchiến tranh Ukraina đã khó, nhưng những yếu tố đó không nguy hại bằng những « lỗ hổng xuất phát từ nội tình kinh tế của Trung Quốc gây ra ». Những lỗ hổng đó gồm yếu tố dân số, mức thu về lợi nhuận rất thấp của mỗi một đồng tiền vốn bỏ ra, là « núi lửa » địa ốc đang phun trào, là mức nợ chồng chất ở cấp địa phương và những món nợ khổng lồ đó hiện tại do các ngân hàng Nhà nước gánh chịu. Jean –François Huchet : « Trung Quốc không mang nợ nước ngoài. Nợ của Trung Quốc chủ yếu do Nhà nước kiểm soát. Thành thử Bắc Kinh không lo mất khả năng thanh toán như Sri Lanka hay nhiều nước châu Phi ». Nhưng khả năng tài chính của Trung Quốc cũng có giới hạn : Jean –François Huchet : « Trung Quốc có những phương tiện tài chính dồi dào, lại ít mang nợ nước ngoài. Trung Quốc có một khối dự trữ ngoại tệ bằng đô la rất, rất lớn. Thâm hụt ngân sách thì lại không đáng kể - mà có đi chăng nữa, thì khoản bội chi đó sẽ do các ngân hàng Nhà nước đảm nhiệm. Bất kỳ lúc nào Đảng và Nhà nước muốn ban hành một gói hỗ trợ kinh tế cũng được cả. Song, tôi nghĩ các gói kích cầu lần này không được quy mô như hồi 2009 để khắc phục hậu quả khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bởi thứ nhất, Bắc Kinh đến nay vẫn chưa thanh toán xong gói kích cầu của đợt đó, và thứ nữa, như đã nói, thị trường địa ốc và ngành xây dựng đã đến lúc bão hòa. Thành thử lần này chính phủ cần tập trung khuyến khích tiêu thụ. Tiêu thụ nội địa giảm mạnh do các đợt phong tỏa liên tiếp. Đây mới là ưu tiên cần phải quan tâm ». Vậy phải chăng « hai trong số ba đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc đã bị hỏng » như cố vấn về châu Á của viện nghiên cứu Montaigne, François Godement đã ghi nhận trong bài viết mang tựa đề « China’s chang of Economic Model : Not so Fast ! » ? Theo ông, đành rằng xuất khẩu của Trung Quốc vẫn hoạt động rất tốt (tăng 16 % trong tháng 5/2022) và Trung Quốc vẫn trong thế xuất siêu (+ 78 triệu đô la trong một tháng) với phần còn lại của thế giới, nhưng hai đầu máy khác là đầu tư và nhất là tiêu thụ đang thực sự « lung lay ». Đầu tư vào hạ tầng cơ sở thì Trung Quốc bước vào giai đoạn « bão hòa ». Thị trường Trung Quốc kém hấp dẫn trong mắt các nhà tư bản quốc tế. Nhìn đến tiềm năng tiêu thụ của nước đông dân nhất địa cầu lo ngại lại càng lớn hơn. Trong bối cảnh kinh tế bấp bênh đó Bắc Kinh liệu có thực sự an tâm để chuẩn bị Đại Hội Đảng vào tháng 11 tới đây hay không ? Nhất là khi một vài công cụ từng tạo nên phép lạ kinh tế của Trung Quốc không còn « sắc bén » như xưa. Nhưng giới quan sát cho rằng cũng sẽ là một sai lầm nếu kỳ vọng ông Tập Cận Bình sẽ thay đổi mô hình phát triển của Trung Quốc.

9m
Jul 12
Kế hoạch khẩn cấp của Pháp về năng lượng

Giữa những ngày hè nắng nóng, Pháp “rét run” trước viễn cảnh thiếu điện vào mùa đông sắp tới. Mối lo ngại đó bắt nguồn từ đâu, chính phủ sẽ phải làm những gì tránh để xảy ra kịch bản cỗ máy sản xuất của Pháp bị xáo trộn vì mất điện và tư nhân không có sưởi vào mùa đông giá rét ? Pháp không là một ngoại lệ, mối lo của Đức cũng lớn không kém. Ngược lại, Ba Lan dù lệ thuộc nhiều vào khí đốt của Nga nhưng Vacxava lại tương đối vững vàng. Trong vài tuần lễ tập đoàn năng lượng của Nga, Gazprom thông báo “khóa van” của Ba Lan và Bulgarie, giảm xuất khẩu sang Áo, Đức, Ý ... và sắp tới đây đường ống dẫn khí đốt Nord Stream 1 đi qua biển Baltic sẽ tạm đóng cửa trong 10 ngày để “kiểm tra kỹ thuật”. Trong thời gian đó châu Âu sẽ mất đi thêm 40 % khí đốt. Vấn đề đặt ra là hiện tại không ai biết Matxcơva có cho phép Bắc Hải Lưu 1 hoạt động hay không. Sau thông báo tạm đóng Bắc Hải Lưu 1, giá khí đốt trên thị trường tăng thêm 16 % trong một phiên giao dịch. Berlin lo ngại hơn cả vì khí đốt Nga bảo đảm đến 35 % nhu cầu tiêu thụ nội địa của Đức. Pháp ít bị tác động hơn, nhờ nguồn tiêu thụ chính là điện hạt nhân. Thủ tướng Elisabeth Borne cuối tháng 6/2022 khẳng định về năng lượng, mức tự chủ của Pháp “cao hơn” so với Đức. Tuy nhiên, mặc dù đang phải tập trung chuẩn bị cải tổ nội các, bà Borne đã phải khẩn trương đúc kết “kế hoạch năng lượng” tránh để Pháp bị thiếu điện vào mùa đông sắp tới. Không còn “chê” than đá gây ô nhiễm Ba dấu hiệu rõ rệt nhất thể hiện lo ngại đó : một là chính phủ đang rà soát lại tất cả những khâu nào có thể tiết kiệm được năng lượng, hai là tính đến khả năng khởi động lại nhà máy điện hạt nhân Fessenheim đã đóng cửa cách nay đúng hai năm, mở cửa trở lại nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá Saint Avold ở tỉnh Moselle, miền đông bắc nước Pháp, hoãn lại kế hoạch đóng cửa nhà máy điện Cordemais trong vùng Loire Atlantique, miền tây. Sau cùng chính phủ ra lệnh cho các tập đoàn phân phối khí đốt “trang bị đầy các bồn dự trữ”, tối thiểu là 89 % thay vì 59 % như hiện tại. Nếu đầy, các bồn chứa khí đốt được chôn dưới lòng đất có khả năng đáp ứng  ¼ nhu cầu tiêu thụ của Pháp. Giám đốc tập đoàn Storengy với 14 trung tâm dự trữ khí đốt tại Pháp và 7 địa điểm khác tại Anh và Đức, Pierre Chambon nhấn mạnh đến tầm mức chiến lược của các khoản dự trữ năng lượng : “ Đây là một sự bắt buộc về mặt pháp lý và điều đó đóng góp vào việc bảo đảm về an ninh năng lượng của Pháp, cho phép chúng ta đối mặt với mọi tình huống, thí dụ như những đợt lạnh bất thường, hay là vì một trục trặc kỹ thuật nào đó trong khâu sản xuất, trong khâu chuyên chở để đưa khí đốt vào đến Pháp”. Giải pháp tiết kiệm điện Ngoài ra trong một vài ngày tới chính phủ sẽ ra chỉ thị khuyến cáo từng ngành nghề về chỉ tiêu tiết kiệm năng lượng. Paris muốn giảm 10 % tiêu thụ năng lượng trong hai năm. Theo giáo sư Thierry Bros trường Khoa Học Chính Trị Paris, Sciences Po, không dễ để giảm 10 % tiêu thụ trong thời gian ngắn như vậy : “Nếu như ngày mai chúng ta bị cắt nguồn cung cấp khí đốt – kịch bản này hoàn toàn có thể xảy ra, thì các công ty điện lực vẫn phải sẵn sàng bảo đảm năng lượng cho các nhà máy, tránh để hệ thống sản xuất bị đứt quãng. Đổi lại thì về phía các nguồn tiêu thụ, từ các hãng xưởng, văn phòng đến tư nhân phải chấp nhận dùng ít điện hơn trước. Nhưng tiết kiệm năng lượng, giảm mức tiêu thụ khoảng 10 % là nhiều lắm đấy chứ”. 29 trong số 56 lò hạt nhân bị tê liệt Yếu tố địa chính trị chỉ giải thích một phần bài toán khó của Pháp hiện nay. Tính đến giữa tháng 5 vừa qua, trên toàn quốc 29 trong số 56 lò phản ứng hạt nhân của Pháp ngừng hoạt động để sửa chữa hay kiểm tra về các tiêu chuẩn an toàn. Tại một quốc gia mà điện hạt nhân bảo đảm 40 % nhu cầu tiêu thụ thì đây là một “sự thiếu hụt” rất nghiêm trọng. Theo các thống kê của chính phủ Pháp, tiêu thụ của cả nước trong năm 2021 lên tới gần 2.600 TWH. Dầu hỏa chiếm 28 % ; khí đốt chỉ chiếm có 16 % mà nguồn cung cấp chính là Nga. Năng lượng tái tạo chiếm vẫn còn giữ vị trí khiêm tốn với 14 % và than đá chỉ cho phép tạo ra khoảng từ 1 đến 2 % điện tiêu thụ ở Pháp. Năng lượng tái tạo chưa đủ sức để thay thế hay cho phép giảm áp lực trên thị trường trong lúc công nghiệp điện hạt nhân của Pháp gặp nhiều trở ngại, thế hệ mới sử dụng công nghệ EPR liên tục bị chậm trễ và phải dời lại ngày đưa vào hoạt động. Giảm tiêu thụ và đi tìm các nguồn tài nguyên mới Trong tình huống đó, giải pháp trước mắt dường như dễ thực hiện nhất là tiết kiệm điện. Ba tập đoàn cung cấp điện lực tại Pháp (Engie, EDF và TotalEnergies) cũng xem đây là thượng sách. Cuối tháng 6/2022 gần 100 lãnh đạo các tập đoàn của Pháp khuyến cáo mọi người cần “ tiết kiệm điện ngay từ bây giờ”. Một số khác thì nhìn xa hơn và có vẻ kỳ vọng vào khả năng khai thác năng lượng hóa thạch trong lòng đại dương. Chính xác hơn là giới trong ngành nhắm vào hai mỏ khí đốt được phát hiện hồi năm 2020 ở ngoài khơi Israel và đảo Síp. Liên Âu và cả Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ dự án xây dựng đường ống dẫn khí nối liền ba quốc gia Israel, Síp và Hy Lạp để cung cáp cho thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới là châu Âu. Chuyên gia Charles Ellinas, cựu lãnh đạo tập đoàn dầu khí quốc gia Síp cho biết : “Mặc dù dự án đã nảy sinh từ năm 2020 thế nhưng chưa bao giờ đường ống dẫn khí đốt ở khu vực Đông Địa Trung Hải được cụ thể hỏa bởi nhiều lý do : về mặt kỹ thuật, đường ống này rất dài (1.800 km) và có những đoạn được chôn sâu đến 3000 mét dưới lòng biển. Kế tới đây là một công trình rất tốn kém, dự trù các phí tổn lên tới từ 8 đến 10 tỷ đô la. Đấy là chưa kể đến yếu tố địa chính trị, luôn có căng thẳng giữa ba quốc gia liên quan là Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp”    Giảm khí thải carbon của chiến lược năng lượng châu Âu Bên cạnh những khó khăn về kỹ thuật đó, sự thật phức tạp hơn bởi tham gia vào một dự án khai thác mới đi ngược lại với những mục tiêu giảm tiêu thụ năng lượng hóa thạch, giảm mức thải khí carbon làm hâm nóng bầu khí quyển Olivier Vardakoulias, kinh tế gia thuộc tổ chức mang tên Mạng Lưới Hành Động vì Khí Hậu (Climate Action Network) ví von : “Chúng ta không thể cai nghiện ma túy mà vẫn lui tới với các tay môi giới. Đành là Liên Âu tìm cách thay thế khí đốt của Nga bằng cách tìm kiếm những nguồn cung cấp khác và do vậy dự án EastMed có vẻ như được hồi sinh. Tuy nhiên khai thác một giếng năng lượng hóa thách mới thì chúng ta cũng vẫn sẽ thải khí gây hiệu ứng nhà kính”. Cựu lãnh đạo tập đoàn dầu khí Síp, Charles Ellinas nêu bật một yếu tố khác nữa đó là dự án đường ống dẫn khí Đông Địa Trung Hải không được các tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới ủng hộ. “Liên Hiệp Châu Âu có tham vọng giảm 30 % tiêu thụ khí đốt từ nay đến năm 2030 và 80 % đến ngưỡng 2050. Vậy thì khai thác một nguồn dự trữ mới như EastMed không phù hợp với mục tiêu giảm thiểu lượng thải khí carbon chút nào. Hơn nữa trên thực tế, dự án này chỉ được quan tâm ở cấp nhà nước. Các công ty năng lượng lại rất kín tiếng về EastMed. Ngay cả một đối tác lớn trong khu vực là hãng dầu khí của Mỹ Chevron tới nay hoàn toàn im lặng” . Ba Lan biết lo xa ? Vào lúc mà Đức hay Pháp đang chạy nước rút tìm năng lượng thì Ba Lan, tuy rất lệ thuộc vào dầu khí của Nga nhưng lại biết lo xa, thông tín viên đài RFI Sarah Bakaloglou từ Vacxava giải thích : “Ngay từ 2019 Ba Lan đã thông báo chấm dứt hợp đồng với Gazprom vào cuối năm 2022 để không còn bị lệ thuộc vào Matxcơva. Do vậy tháng tư vừa qua, khi tập đoàn dầu khí của Nga thông báo ngừng cung cấp cho Ba Lan, đấy là một quyết định được đưa ra sớm hơn vài tháng so với dự kiến mà thôi. Nga cung cấp đến 45 % khí đốt và 75 % dầu hỏa tiêu thụ tại Ba Lan. Lệ thuộc nhiều vào Nga như vây, nhưng điều đó không cấm cản Vacxava vận động để Liên Âu ngưng nhập khẩu năng lượng Nga, trừng phạt Matxcơva xâm chiếm Ukraina. Chính phủ Ba Lan cho biết hơn 2/3 các bồn dự trữ năng lượng đã đầy, tỷ lệ này cao hơn gấp đôi so với mức trung bình tại Liên Hiệp Châu Âu, theo lời bộ trưởng Môi Trường Ba Lan. Vẫn theo Vacxava, hiện tại quốc gia này là thành viên duy nhất có thể bỏ các nhà cung cấp Nga nhờ đường ống dẫn khí đốt nối liền Ba Lan và Litva, Ba Lan nhập khẩu khí hóa lỏng của Qatar và Mỹ từ 2015 qua cửa ngõ một cảng ở gần biên giới với Đức. Thế rồi từ đầu năm tới lại có thêm một ống dẫn khí đốt khác là Baltic Pipe sẽ hoạt động, đưa khí đốt của Na Uy sang Ba Lan qua ngả Đan Mạch. Trung bình thì mỗi năm Ba Lan sẽ nhận được khoảng 10 tỷ mét khối khí đốt của Na Uy, tương đương với 50 % tiêu thụ nội địa”. Tựu chung châu Âu vẫn lúng túng vì bài toán năng lượng. Pháp hay Đức và Ý thì vừa lệ thuộc vào khí đốt của Nga, vừa luôn phải cân nhắc giữa một bên là mục tiêu giảm khí CO2 làm hâm nóng trái đất, và bên kia là nhu cầu tiêu thụ về điện lực. Chiến tranh Ukraina với hậu quả kèm theo là giá năng lượng bị đẩy lên cao, nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng làm lộ rõ những tính toán sai lầm của Lục địa già trên bàn cờ năng lượng quốc tế. Có một điều chắc chắn là tham vọng "thoát Nga" của Liên Hiệp Châu Âu trong lĩnh vực năng lượng còn xa vời.

8m
Jul 05
Gạo có nguy cơ tăng giá đẩy châu Á vào cảnh đói kém ?

Ukraina chỉ là một trong số những cuộc khủng hoảng chồng chất cùng với ám ảnh “an ninh lương thực” của những nước đông dân nhất địa cầu như Trung Quốc hay Ấn Độ đẩy giá lương thực lên cao. Có thêm từ 11 đến 19 triệu người lâm vào cảnh “đói kém kinh niên”. Bao nhiêu nạn nhân trong số ấy là người châu Á, Đông Nam Á có bị ảnh hưởng nhiều hay không? Gạo có nguy cơ trở thành một thứ hàng xa xỉ, ngoài tầm tay của một phần dân số hay không ? Để trả lời các câu hỏi trên, RFI Việt ngữ mời Sébastien Abis giám đốc Club Demeter, một tập hợp quy tụ nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm, đặc trách về hồ sơ lương thực thực phẩm thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp Là khu vực tập trung 50 % sản lượng toàn cầu, hơn một nửa nhân loại, châu Á cũng đang phải đối mặt với hiện tượng vật giá leo thang. Giá nông phẩm, lương thực tăng “đến chóng mặt”. Tháng 2/2022 Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc FAO báo động chỉ giá thực phẩm tăng 30 % so với cùng thời kỳ một năm trước đó. Riêng giá lúa mì, một trong ba loại ngũ cốc được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới, tăng 56 % so với tháng 2/2021. Hơn 100 triệu dân cần được viện trợ lương thực. Trong những tháng tới đây, nạn đói có nguy cơ lan rộng đến hàng chục triệu người trên hành tinh. Chiến tranh Ukraina chỉ là “một phần của vấn đề” Điều trớ trêu ở đây là vào lúc một phần nhân loại bị thiếu lương thực, do tác động của chiến tranh Nga và Ukraina, hàng chục triệu tấn ngũ cốc của một trong hai vựa ngũ cốc thế giới là Ukraina bị kẹt ở các nhà kho, hay hải cảng của quốc gia này. Từ nhiều tuần qua đàm phán khai thông Biển Đen vẫn bế tắc. Nhà nghiên cứu Sébastien Abis trước hết nhấn mạnh yếu tố chiến tranh Ukraina chỉ là một phần của vấn đề : Sébastien Abis : “Tình trạng hiện tại do nhiều cuộc khủng hoảng diễn ra cùng một lúc. Trước hết là khủng hoảng về phía các nhà sản xuất do biến đổi khí hậu, thiên tai và càng lúc tình hình càng bấp bênh. Kế tới là về những ách tách ở các khâu vận chuyển. Thứ ba là khủng hoảng dịch Covid-19 đem lại, chẳng hạn như  là  các nhà sản xuất gặp nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng nhân công. Thứ tư là yếu tố địa chính trị liên quan trực tiếp đến hai nguồn sản xuất lớn, hai nhà xuất khẩu của thế giới là Nga và Ukraina”.   Áp lực rất lớn của châu Á Tại châu Á, chỉ riêng Trung Quốc, Ấn Độ nuôi gần ba tỷ miệng ăn, Indonesia với trên 250 triệu dân và nhiều quốc gia với dân số ở mỗi nước trên dưới 100 triệu, như Việt Nam, Philippines hay Nhật Bản … Mức độ và chỉ số phát triển của các quốc gia trên châu lục này lại rất khác nhau. Sri Lanka hay Bangladesh, Afghanistan… là những nền kinh tế kém phát triển nhất, nghèo nhất, dễ bị nạn đói hoành hành nhất. Sébastien Abis : “Indonesia, Malaysia hay Việt Nam bị lạm phát. Đấy là những quốc gia với hơn 100 triệu dân, thậm chí là 250 triệu như trong trường hợp của Indonesia. Chủ yếu giá lương thực thực phẩm tăng quá nhanh. Một nước nhỏ như Singapore lệ thuộc nhiều vào nông phẩm nhập từ nước ngoài, đời sống cũng trở nên đắt đỏ”. Vẫn giám đốc Club Demeter Sébastien Abis phân tích sâu hơn về bài toán nan giải của các nước châu Á, kể cả những quốc gia có nhiều phương tiện như Trung Quốc hay Singapore : Sébastien Abis : “ Trong hoàn cảnh đã khó khăn đó, các nước Á châu đứng trước một bài toán nan giải : làm thế nào để tăng mức sản xuất nội địa, tự chủ về mặt nông nghiệp trong lúc mà môi trường càng lúc càng phức tạp, vì thời tiết thay đổi bất thường, càng lúc càng khắc nghiệt, thí dụ như những đợt nắng nóng vừa qua ở Ấn Độ, hay những đợt mưa lũ gây thiệt hại cho mùa màng. Thêm vào đó, giá các loại nguyên liệu tăng cao, xăng dầu đắt đỏ, phân bón khan hiếm… Vậy làm thế nào để bảo đảm an ninh về lượng thực, các nhà nguồn nhập khẩu vẫn được bảo đảm và không bị mất các nguồn cung ứng ?”. Giá dầu hỏa trên thế giới trong tháng 5/2022 tăng 80 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Giá phân bón bị nhân lên gấp bốn lần trong vòng một năm do Nga là một trong những nhà cung cấp phân bón hóa học “nặng ký” của thế giới. Không có phân bón của Nga, các vựa lúa mì của thế giới từ Ấn Độ đến Trung Quốc hay Mỹ và cả Pháp, Brazil đều điêu đứng, như ghi nhận của giám đốc tập hợp các nhà nghiên cứu nông nghiệp, Club Demeter. Gậy ông đập lưng ông Bên cạnh những yếu tố không ngừng đẩy giá nông phẩm lên cao thì còn phải tính đến những nước cờ “ích kỷ” hay đơn giản là một sai lầm về chiến thuật của một số nước đông dân nhất địa cầu. Đương nhiên mọi người nghĩ ngay đến trường hợp của Trung Quốc với gần 1.5 tỷ dân. Trung Quốc thường xuyên bị thiên tai, (hạn hán và lũ lụt) gây thiệt hại mùa màng, trong lúc ổn định xã hội tùy thuộc vào khả năng bảo đảm “cơm no, áo ấm”cho gần 20 % nhân loại. Là một trong những nhà sản xuất lớn bậc nhât thế giới trong nhiều lĩnh vực nhưng nhu cầu tiêu thụ nông phẩm cũng lớn không kém cho nên, Trung Quốc thường xuyên là “nguồn nhập khẩu quan trọng của thế giới”. Thêm vào đó, Bắc Kinh lại có phương tiện về tài chính, ngoại giao để thuyết phục các nhà cung cấp phục vụ Trung Quốc trước một số quốc gia châu Á khác. Sébastien Abis nhìn nhận áp lực về an ninh lương thực của Bắc Kinh là rất lớn. Sébastien Abis : “Nhu cầu của thị trường Trung Quốc liên quan trực tiếp đến thị trường nội địa rộng lớn của nước này và khả năng sảng xuất thì chỉ có hạn cho dù là Trung Quốc đang đưa những công nghệ mới vào trồng trợt và chăn nuôi để tăng năng suất và nhất là để không phải lệ thuộc vào phần còn lại của thế giới. Từ 15 năm trở lại đây, cán cân thương mại của Trung Quốc về lương thực, thực phẩm luôn bị thâm hụt nghiêm trọng”. Tuy vậy cũng chính ám ảnh về “an ninh lương thực” là con dao hai lưỡi. Nhà nghiên cứu viện IRIS, Sébastien Abis giải thích thêm và ông nêu bật kinh nghiệm cụ thể gần đây của Ấn Độ và Indonesia : Sébastien Abis : “Khi tình hình địa chính trị bấp bênh hơn hay trong trường hợp đại dịch như vừa qua, đúng là mọi người có khuynh hướng tích trữ lương thực thực phẩm. Mua vào nhiều hơn bình thường, ai cũng lo xa đề phòng đói kém. Nhưng mọi người quên mất rằng, khi cung đã cao hơn cầu, càng tích trữ, thì càng đóng góp vào việc đẩy giá cả lên cao. Điều đó có nghĩa là chính mình tạo ra lạm phát. Thêm vào đó như đã thấy, Ấn Độ tuyên bố ngừng xuất khẩu lúa mì để bảo đảm cho nhu cầu nội địa của hơn một tỷ miệng ăn, sau đó đến lượt Indonesia, một trong những nhà xuất khẩu dầu cọ của thế giới ngưng xuất khẩu dầu. Lập tức giá hai  mặt hàng này đã tăng vọt sau quyết định của New Dehli và Jakarta. Chung cuộc cả hai quốc gia nói trên đều đã phải dừng tay”. Gạo cũng bị đẩy vào vòng xoáy khủng hoảng ? Một lo ngại khác cho châu Á, là kịch bản mất đi một kho lúa mì, ngũ cốc của Ukraina do chiến sự kéo dài, châu Phi hay Trung Đông, chuyển hướng xoay qua chiếu cố gạo của châu Á. Hệ quả kèm theo là giá gạo trên thế giới cũng tăng cao và đe dọa trực tiếp đến “nồi cơm” của nhiều nước châu Á. Trước khi trả lời các câu hỏi này, Sébastien Abis giám đốc Club Demeter và cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp lưu ý : nhóm VIP –gồm Việt Nam, Indonesia và Philippines là ba nền kinh tế năng động ở khu vực Đông Nam Á, với 450 triệu dân. Mức sống của tầng lớp trung lưu đã tăng nhanh trong thời gia gần đây. Nhu cầu tiêu thụ -cả về mặt chất lượng lẫn khối lượng qua đó cũng tăng theo. Indonesia, Việt Nam hay Philippines càng lúc càng mua vào nhiều lúa mì (nhập khẩu của các quốc gia kể trên tương đương với của Algeri, Maroc hay Mêhicô trong 5 năm trở lại đây). Do vậy “bản thân các quốc gia này cũng đã bị lôi vào vòng xoáy của cơn sốt lúa mì và ngũ cốc” trên thế giới. Riêng về câu hỏi châu Á có lo thiếu gạo hay không, chuyên gia pháp cho rằng câu trả lời trước mắt là không :   Sébastien Abis : “Đúng thị trường gạo rất quan trọng do đây là một trong ba loại ngũ cốc phổ biến nhất trên thế giới, sau bắp và múa mì. Khác với bắp, gạo chủ yếu phục vụ nhu cầu của con người. Sản lượng của thế giới là 500 triệu tấn một năm, 10 % là đề xuất khẩu và ba nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới là Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan. Chỉ cần một trong ba quốc gia này mất mùa cũng đủ để ảnh hướng đến thị trường của thế giới. Bên cạnh đó chúng ta thấy gần đây, châu Phi tiêu thụ gạo nhiều hơn. Các luồng giao thương giữa châu Á và châu Phi trở nên quan trọng hơn so với trước, chủ yếu là hướng sang các nước ở phía nam sa mạc Sahar. Thế rồi chính các quốc gia này cũng bắt đầu trồng lúa đế bớt bị lệ thuộc vào gạo nhập từ nước ngoài. Đây là một trong những thay đổi lớn trên thị trường ngũ cốc của thế giới trong 10 năm vừa qua”.

8m
Jun 28
Chiến tranh Ukraina thách thức công nghiệp quốc phòng của Châu Âu

Nếu bị tấn công như Ukraina, Pháp có thể cầm cự được bao lâu mà không cần các đồng minh viện trợ vũ khí ? Đức đầu tư thêm 100 tỷ euro hiện đại hóa quân đội, nhưng lại chọn mua hàng của Mỹ. Chiến tranh ngay sát cạnh biên giới Liên Hiệp Châu Âu làm lộ rõ những nhược điểm của nền công nghiệp phòng thủ trên Lục Địa Già. Đâu là những thách thức mà cuộc chiến này đặt ra cho các nhà sản xuất vũ khí của châu Âu ? Trong gần một tuần lễ, từ ngày 13 đến 17/06/2022, khoảng 1.700 công ty đại diện cho hơn 60 quốc gia trên thế giới đã tập hợp về khu triển lãm Villepinte, ngoại ô phía bắc Paris, dự triển lãm lớn nhất thế giới về các phương tiện quân sự sử dụng trên bộ, Eurosatory 2022. Nga là một trong ba nhà sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới, nhưng đương nhiên các tập đoàn Nga đã hoàn toàn vắng mặt Eurosatory lần này. Tất cả các tập đoàn tham gia đều bị đặt trước một thực tế : chiến tranh Ukraina chẳng những đang diễn ra một cách « cổ điển » trên bộ, trên không, trên biển, trên mặt trận truyền thông tuyên truyền, mà còn bao hàm luôn cả các trận địa mới, như các mạng xã hội và không gian cyber. Những mặt trận mới đó đòi hỏi một cách tiếp cận mới về chiến lược an ninh và phòng thủ, đòi hỏi những vũ khí mới, những công cụ mới với những công nghệ mới. Thế giới lao vào chạy đua vũ trang Cuộc chiến mà Nga khởi động từ hôm 24/02/2022 và trước đó nữa là căng thẳng về địa chính trị tại hầu hết các châu lục trên thế giới đã mang lại một bầu « sinh khí mới » cho các nhà sản xuất khí tài châu Âu. Jean-Marc Duquesne, tổng giám đốc GICAT, tập hợp các nhà sản xuất khí tài của Pháp trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh trên bộ, ghi nhận trên đài truyền hình Pháp France 24 : Jean-Marc Duquesne 1 : « Đây là một lĩnh vực, mà do thời cuộc và những chuyển biến về địa chính trị, đang trong giai đoại thuận lợi. Chưa bao giờ nhu cầu của các quốc gia lại cao như hiện tại. Tuy nhiên, đây cũng là một lĩnh vực khá đặc biệt, do khách hàng là các nhà nước. Các nhà chế tạo vũ khí phải thích nghi để chen chân vào bàn cờ chiến lược đó của thế giới. Đừng quên rằng công nghiệp vũ khí là một lá chắn, một tấm khiên bảo vệ những quốc gia nào có những công cụ đó ». Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI, trong năm 2021 chi phí quốc phòng của thế giới lên tới hơn 2.100 tỷ đô la, một mức cao chưa từng thấy. Chỉ ba ngày sau khi Ukraina bị xâm chiếm, chính phủ Đức thông báo « một quỹ đặc biệt » 100 tỷ euro cho những năm sắp tới để hiện đại hóa lực lượng phòng thủ. Kế hoạch đó vừa được Quốc Hội thông qua. Nhưng trước biến cố Ukraina, Pháp từ vài năm nay đã liên tục nâng ngân sách quốc phòng, cho dù 40 tỷ euro một năm không thấm vào đâu so với trên 700 tỷ đô la của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Vẫn theo báo cáo của SIPRI 2021 không chỉ có châu Âu tăng chi phí quân sự, mà cả châu Á cũng đã nhập cuộc : 81 % chi tiêu quân sự trên thế giới xuất phát từ 15 quốc gia. Trung Quốc (293 tỷ đô la) Ấn Độ (77 tỷ đô la), Anh, Nga và Mỹ (700 tỷ đô la) là những quốc gia « mua vào nhiều nhất ». Về phía các nguồn cung, Pháp, với 8,2 % thị phần quốc tế, có tên trong bộ ba dẫn đầu thế giới, nhưng bị Nga, khoảng 20 % và nhất là Mỹ, 37 %, bỏ lại rất xa phía sau. Đáng ngạc nhiên không kém: ba trong số 10 khách hàng lớn của Pháp là Hàn Quốc, Singapore và Ấn Độ. Châu Âu chê hàng của chính mình Ngoài Pháp, từ một nước lớn, như Đức và hay nhỏ, như vương quốc B,ỉ đều có nhiều tập đoàn sản xuất vũ khí lợi hại. Ở cấp châu Âu không thiếu những tên tuổi lớn như Airbus, hay những chương trình phát triển vũ khí chung như Quỹ Phòng Thủ Châu Âu –FED, Sáng Kiến Can Thiệp Châu Âu IEI … và mới nhất là kế hoạch thiết kế Hệ Thống Chiến Đấu trên Không cho Tương Lai SCAF, liên kết Pháp với Đức và Tây Ban Nha. Dù vậy, khi cần trang bị vũ khí và chiến đấu cơ, hay các loại khí tài, thì bản thân các thành viên Liên Âu lại hướng về phía các nhà sản xuất của Mỹ. Từ Thụy Điển đến Hà Lan đều thích hàng Mỹ. Ba Lan và chính bản thân Đức cũng vậy. Một phần trong số 41 tỷ euro trích từ quỹ 100 tỷ nhằm nâng cao khả năng phòng thủ cho Không Quân Đức được dành để mua 35 chiến đấu cơ F35 của Mỹ. Đức « chê » Rafale của Pháp. Jean-Marc Duquesne, tổng giám đốc GICAT cho rằng châu Âu bắt đầu ý thức về sự lệ thuộc quá lớn vào nền công nghiệp vũ khí của Hoa Kỳ. Ông giải thích thêm về quyết định của Đức mua chiến đấu cơ Mỹ thay vì chọn Pháp : Jean-Marc Duquesne 2 : « Tại sao và làm thế nào tránh để các khoản đầu tư trang bị vũ khí phòng thủ của châu Âu có lợi cho một quốc gia thứ ba, tôi muốn nói đến Hoa Kỳ hay Israel. Trong giai đoạn 2008-2022 chẳng hạn, đã có đến 60 % các khoản chi tiêu của châu Âu rót vào các tập đoàn ngoài khối. Do vậy, Liên Âu đã thông qua một kế hoạch đầu tư chung trong lĩnh vực phòng thủ. Trong tương lai, 35 % ngân sách mua trang thiết bị quân sư của các thành viên trong khối dành cho các nhà sản xuất của châu Âu, thay vì chỉ có 11 % như hiện tại (...) Giữa Đức và Hoa Kỳ có một mối liên hệ rất chặt chẽ, nhưng chúng ta cần quan sát xem quan hệ đó chuyển biến như thế nào, ngoài việc Berlin mua chiến đầu cơ F35 của Mỹ. Chúng ta hãy chờ xem Đức sẽ có những kế hoạch hợp tác nào với các đối tác châu Âu. Thí dụ như với Pháp, đôi bên đang tập trung vào dự án thiết kế và chế tạo xe tăng. Hai bên đang phân chia công việc. Trên nguyên tắc, đến năm 2035, những sản phẩm đầu tiên sẽ bắt đầu được sử dụng. Đây là những quyết định mang nặng hệ quả cả về mặt công nghiệp lẫn kinh tế. Đạt được đồng thuận đòi hỏi nhiều thời gian ». Nhu cầu cấp bách « lấp đầy những lỗ hổng » Tự chủ về mặt phòng thủ càng mang tính cấp bách với cuộc chiến Nga-Ukraina hiện nay. Charles Beaudouin, tổng giám đốc COGES Events ban tổ chức triển lãm khí tài và trang thiết bị quân sự trên bộ Eurosatory, phân tích : Charles Beaudouin  : « Theo tôi, châu Âu vừa ý thức được rằng châu lục này một lần nữa phải trực diện với chiến tranh. Trong gần 30 năm liền, châu Âu phát triển các công cụ để đương đầu với khủng bố. Công nghiệp quốc phòng của châu Âu phát triển theo hướng đó để rồi giờ đây mọi người mới bừng tỉnh nhận ra rằng nhu cầu của châu lục này khác hẳn hoàn toàn : Chúng ta thiếu đạn dược, các lực lượng quân sự phải thích nghi với tình huống chiến tranh khác hẳn với cuộc chiến chống khủng bố. Ngành sản xuất vũ khí cần đầu tư nhiều cho tương lai. Nếu moi việc diễn ra tốt đẹp, khoảng 20 năm nữa châu Âu sẽ gặt hái được những thành quả đầu tiên. Có nghĩa là sẽ bắt đầu tự chủ về công nghệ quốc phòng và không phải lệ thuộc vào Mỹ như hiện nay nữa ». Chính xác hơn, chiến tranh Ukraina làm lộ ra những nhược điểm nào về các phương tiện phòng thủ của châu Âu ? Thí dự như trong trường hợp của Pháp, báo cáo trước Thượng Viện hồi tháng 5/2022, lãnh đạo DGA đặc trách phối hợp các chương trình mua bán vũ khí Joel Barre đã nêu bật một số « bài học » rút ra từ cuộc chiến ở cách biên giới Pháp chưa đầy 1500 km:   Pháp thiếu đạn pháo, pháo binh là một điểm yếu, nhất là sau khi cam kết cung cấp cho Ukraina 18 khẩu đại bác hiện đại nhất Caesar, tức là 25 % « những gì đã và sắp có được để trang bị cho bên Lục Quân » ; Điểm thứ nhì là nhịp độ sản xuất vũ khí của Pháp bị đánh giá là « chậm » và « rất khó » để « tăng tốc độ » cho ra lò các loại trang thiết bị quân sự cần thiết, khi mà  Pháp thiếu « phụ tùng », phải « nhập khẩu một số nguyên liệu cần thiết », bị phụ thuộc vào các đối tác « gia công » ở nước ngoài. Bên cạnh đó, chiến sự Ukraina cho thấy chiến tranh trong thế kỷ 21 vẫn là một « cuộc chiến toàn diện », mà ở đó các bên cần « đạn dược, thiết bị các loại từ xe tải, xe bọc thép, chiến đấu cơ, trực thăng, tàu chiến, cho đến các loại đầu đạn tự hành, drone », cần các công nghệ mới, như trí thông minh nhân tạo hay công nghệ robot, công nghệ kết nối, cho đến kỹ thuật số …. ,bởi « ngoài các mặt trận truyền thống, còn phải tính đến những lĩnh vực mới, như an ninh mạng hay chiến tranh trên không gian ». Ngoài những thách thức về công nghệ đó, tổng giám đốc GICAT, tập hợp các nhà sản xuất khí tài của Pháp trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh trên bộ Jean-Marc Duquesne, xoáy vào một điểm nhậy cảm khác trong chính sách trang bị quân sự của châu Âu. Đó là sự lệ thuộc quá lớn vào Mỹ, trong lúc mà châu Âu, tuy với các phương tiện khiêm tốn hơn nhiều so với của Hoa Kỳ, cũng là một thị trường rộng lớn với ngân sách chung của toàn khối, tương đương với 40-45 % ngân sách của Lầu Năm Góc. Hơn nữa, châu Âu lại có các nhà sản xuất tên tuổi của Đức, Tây Ban Nha Ý và nhất là Pháp, có mối quan hệ đặc biệt với ngành công nghiệp vũ khí của Anh Quốc, một cựu thành viên trong Liên Âu Jean-Marc Duquesne : « Đây là một cuộc chiến đấu dài hơi, được khởi động từ khoảng 15 năm nay. Dưới sự điều phối của Cơ Quan Phòng Thủ Châu Âu, các bên đã xác định đâu là những thiếu sót, những loại trang thiết bị mà có quá nhiều nhà sản xuất cùng tập trung khai thác, và ở những khâu nào các nước trong Liên Âu có thể cộng tác với nhau một cách hiệu quả hơn. Nhưng ngoài việc xác định những nhược điểm đó, các bên không làm gì nhiều để khắc phục tình hình. Thời sự hiện tại đã bắt buộc Liên Hiệp Châu Âu phải rà soát lại cỗ máy sản xuất, lấp đầy vào những lỗ hổng mà cuộc chiến Ukraina đang phơi bày ra ánh sáng ». Tháng 3/2022, lãnh đạo 27 nước Liên Hiệp Châu Âu đã họp thượng đỉnh tại lâu đài Versailles với mục đích « tăng cường khả năng phòng thủ » của châu lục này, đẩy mạnh đầu tư và nhất là nâng cao « tiềm lực công nghiệp » cho các nhà sản xuất châu Âu. Bruxelles bơm thêm 200 tỷ euro cho ngân sách quốc phòng chung nhằm đối phó với những thách thức « chiến tranh Ukraina » đặt ra. Trong giai đoạn 1999/2021, ngân sách phòng thủ chung của châu Âu tăng 20 %, trong lúc mà Hoa Kỳ tăng 65 %. Ngân sách của Nga năm 2021 cao gấp ba lần so với hồi 1999. Trong cùng thời kỳ, Trung Quốc đã tăng ngân sách quốc phòng đến 600 %, theo các thống kê được Ủy Ban Châu Âu đưa ra trong báo cáo hồi tháng 3/2022. Đáng quan ngại hơn nữa là nhiều nước đông và trung Âu vẫn còn sử dụng trang thiết bị quân sự từ thời Liên Xô và với chiến tranh Ukraina, ngay cả các phương tiện dù đã bị lỗi thời này cũng đã được chuyển sang Ukraina, nhằm giúp Kiev kháng cự trước sức mạnh của quân đội Nga. Hậu quả kèm theo là kho dự trữ vũ khí, khí tài, các phương tiện phòng thủ của châu Âu đã bị « gọt mỏng ». Tham vọng của Bruxelles giờ đây là khẩn trương trang bị lại các kho vũ khí đã cạn theo hai hướng : một là đẩy mạnh chiến lược đầu tư và phát triển công nghệ vũ khí của toàn khối để từng bước bớt lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Hướng thứ nhì là, « tương tự như chiến dịch mua vac-xin chung để đối phó với Covid-19 », Liên Âu muốn có một ngân sách chung để trang bị khí tài, để có trọng lượng hơn khi mặc cả với nhà cung cấp chính là Mỹ và trong một chừng mực nào đó là Israel. Giới quan sát không mấy lạc quan trước viễn cảnh này, bởi một phần lớn các nước Đông Âu, đứng đầu là Ba Lan hay ba quốc gia vùng Baltic, Bắc Âu, đều có khuynh hướng « tin vào hàng của Mỹ hơn ». Trái lại, các nhà sản xuất châu Âu thường xuyên « cạnh tranh » với nhau hơn là thiên về giải pháp « hợp tác ».

10m
Jun 21
Âu - Mỹ dùng thương mại và kinh tế để ve vãn Đài Loan

Đầu tháng 6/2022, gần như cùng một lúc, Đài Loan họp với Mỹ chuẩn bị khởi động đàm phán thương mại, nâng cấp đối thoại về thương mại và đầu tư với Liên Hiệp Châu Âu. Tại hội nghị an ninh châu Á Shangri-La, Đài Loan đã là trọng tâm hai bài phát biểu của các bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ - Trung và trong đối thoại đầu tiên giữa Lloyd Austin và Ngụy Phượng Hòa. « Đối thoại chiến lược song phương » Mỹ-Đài Loan dự trù diễn ra từ nay đến cuối tháng 6/2022. Ba ông khổng lồ cùng theo đuổi một cô gái tí hon, một người dùng đòn hù dọa, hai người kia chọn cách dỗ ngọt với hy vọng « làm xiêu lòng người đẹp ». Đó có thể là hình ảnh được dùng khi nói về chiến lược của Mỹ, Trung Quốc và, ở một chừng mực nào đó, của châu Âu trong chính sách với Đài Loan. Nếu như Bắc Kinh không ngớt điều máy bay quân sự uy hiếp, hay mở các cuộc tập trận trong khu vực eo biển Đài Loan, tuyên bố « chiến đấu đến cùng », ngăn cản Đài Loan độc lập, thì ở góc đài bên kia, Mỹ và châu Âu khai thác lá bài đầu tư, thương mại, hợp tác kinh tế và thậm chí là cả an ninh để chiêu dụ Đài Bắc. Làm chủ công nghệ linh kiện bán dẫn không phải là lý do duy nhất khiến Đài Loan trở thành nỗi ám ảnh đối với cả hai siêu cường kinh tế và quân sự của toàn cầu là Mỹ và Trung Quốc. Một hòn đảo chỉ bằng phân nửa diện tích của Ireland, với 23,5 triệu dân cư, không phải là một thị trường rộng lớn để thu hút Liên Hiệp Châu Âu, để các phái đoàn cao cấp của nhiều thành viên khối này viếng thăm Đài Bắc bất chấp phản đối của Bắc Kinh. Chọn Mỹ hơn châu Âu Trong chưa đầy 24 giờ, hôm 1 và 02/06/2022, Đài Loan thắt chặt thêm quan hệ kinh tế cả Hoa Kỳ lẫn Liên Hiệp Châu Âu. Sau cuộc điện đàm giữa bộ trưởng Đài Loan Đặng Chấn Trung và bà Sarah Biachi, phó đại diện Thương Mại Mỹ, đến lượt bộ trưởng Kinh Tế Đài Loan Vương Mỹ Hoa, mở « Đối thoại về Thương Mại và Đầu tư » với đồng cấp Valdis Dombroski, đại diện cho 27 thành viên Liên Hiệp Châu Âu. Đối thoại thương mại và đầu tư Bruxelles - Đài Bắc mở ra hàng năm giữa hai thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, nhưng thường là ở cấp chuyên gia. Năm nay là lần đầu tiên đôi bên họp ở cấp bộ trưởng để tập trung bàn về hợp tác trong lĩnh vực linh kiện bán dẫn. Tháng 02/2022, Liên Âu công bố chiến lược tự chủ về chip điện tử European Chips Act và đã xác định rõ Đài Loan là một trong những « đối tác chính ». Tuy nhiên, kết thúc cuộc họp hôm 02/06/2022, Bruxelles hơi thất vọng vì tập đoàn sản xuất linh kiện bán dẫn số 1 thế giới TSMC thông báo : « Trước mắt không có kế hoạch mở nhà máy tại châu Âu ». Lãnh đạo tập đoàn Mark Liu giải thích họ đã đổi ý vì sợ rằng « không tìm được nhiều khách hàng tại châu Âu », cho dù Bruxelles dự trù ngân sách 43 tỷ euro để phát triển công nghệ bán dẫn từ nay đến 2030. Theo giới phân tích, TSMC hoãn, thậm chí là hủy dự án mở nhà máy trên Lục Địa Già vì muốn tập trung vào Mỹ. TSMC đã đầu tư 12 tỷ đô la vào một nhà máy gần thành phố Phoenix, bang Arizona, Hoa Kỳ. Công trình sẽ bắt đầu hoạt động từ 2024. Kèm theo đó, thêm 5 nhà máy khác cũng đặt tại bang này sẽ lần lượt ra đời. Theo tiết lộ của báo chí Mỹ, kế hoạch đầu tư vào Hoa Kỳ « tốn kém hơn » so với các tính toán ban đầu. Cũng có thể « càng bị Trung Quốc sách nhiễu trên biển, trên không, Đài Bắc càng cần cột chặt vận mệnh vào với Hoa Kỳ », mà kinh tế, thương mại là những kênh không thể thiếu. Nhìn rộng hơn, Đài Loan là đối tác thương mại đứng hạng thứ 10 của Mỹ (2020). Washington trong tình trạng nhập siêu « thường trực », xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Đài Loan chỉ bằng 1/3 so với kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan qua Mỹ. Mathieu Duchâtel, giám đốc chương trình châu Á viện nghiên cứu Montaigne Paris,nhắc lại thành công vượt bực trong chiến lược phát triển của Đài Loan từ 40 năm qua. Để trở thành một « đại cường kinh tế của châu Á », thống lĩnh công nghệ bán dẫn toàn cầu, biến lĩnh vực này thành một « lá bùa hộ mạng » : « Đúng là như vậy. Đây là một lợi thế chiến lược vô vùng to lớn của Đài Loan. Cần nhắc lại Đài Loan từng cùng với Singapore, Hồng Kông, và Hàn Quốc được mệnh danh là bốn con rồng châu Á. Đài Loan đánh cược vào công nghệ bán dẫn từ thập niên 1970, phát triển gia công, và những quan hệ rất chặt chẽ với các trường đại học California, với các hãng công nghệ cao của thung lũng Silicon. Đài Loan đã rất thành công cả về công nghiệp lẫn công nghệ cao, nhờ thế đã trở thành cột trụ trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn ». Mối ràng buộc kinh tế « đặc biệt » Ngay cả với Hoa Lục, Đài Loan cũng là lá chủ bài trong chiến lược phát triển, đặc biệt là trong chiến lược phát triển công nghệ cao của Trung Quốc. Trả lời ban Việt ngữ RFI giáo sư địa chính trị trường Saint Michel Picpus Paris phân tích : « Đài Loan là nền kinh tế thứ 15 trên thế giới và hơn 50 % linh kiện bán dẫn được sản xuất từ Đài Loan. Chính xác hơn là 50,9 %. Chúng ta biết linh kiện bán dẫn chỉ vài nano thôi, nhưng lại là những bộ não của tất cả máy móc điện tử, của vật dụng kết nối. Đài Loan chiếm vị trí then chốt trong ngành công nghiệp máy vi tính, trong mạng internet và phần lớn bọ điện tử lưu hành trên thế giới ra lò từ Đài Loan. Trung Quốc cũng rất lệ thuộc vào chíp điện tử của Đài Loan, đồng thời cũng là một nhà sản xuất linh kiện bán dẫn nhưng không cung cấp cùng những sản phẩm như của Đài Loan, chip của Trung Quốc không cao cấp như của Đài Loan. Cùng lúc, Đài Loan cũng là nhà đầu tư nước ngoài quan trọng nhất vào Trung Quốc, đặt biệt là ở Phúc Kiến. Như vậy là đôi bên cần lẫn nhau để phát triển. Tôi không chắc rằng hai quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau về kinh tế, công nghiệp như vậy lại lao vào chiến tranh » Năm 2020, Hoa Lục là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Đài Loan, chỉ một mình Trung Quốc chiếm hơn ¼ tổng trao đổi mậu dịch của đảo này ; 44 % xuất khẩu của Đài Loan hướng về thị trường Trung Quốc và 22 % nhập khẩu của hòn đảo từ Hoa Lục đổ vào. Về đầu tư, Đài Loan về diện tích tuy chưa bằng 20% tỉnh Quảng Đông, nhưng lại là nguồn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Theo giám đốc chương trình nghiên cứu về châu Á, viện Montaigne, Mathieu Duchâtel : Cho dù Không Quân Trung Quốc thâm nhập vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan, các tập đoàn Đài Loan vẫn đầu tư vào Đại Lục. Liên hệ chặt chẽ về kinh tế đó có thể là một dạng « bảo hiểm nhân thọ » đối với Đài Loan trước những tham vọng chiến lược của Bắc Kinh. Mathieu Duchâtel của viện Montaigne đi sâu hơn vào chi tiết : Đài Loan đã khôn ngoan mở các nhà máy ở phía nam Trung Quốc, và Bắc Kinh thì rất cần các nhà máy đó. Dùng sức mạnh quân sự xâm chiếm Đài Loan dẫn tới nguy cơ các cơ sở hạ tầng, các chi nhánh của Đài Loan tại Hoa Lục bị phá hủy. Kèm theo đó là « cái giá rất đắt đè nặng lên kinh tế toàn cầu, lên lĩnh vực tin học của thế giới mà trong đó bao gồm cả Trung Quốc ».   Marc Julienne, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, trên đài RFI tiếng Pháp lưu ý, nhờ thế giới lệ thuộc đến 70% vào chip điện tử Đài Loan, nên « rất có thể Washington can thiệp quân sự trong trường hợp đảo này bị đánh chiếm ». Ngoài Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu cũng sẵn sàng « bảo vệ » Đài Loan trước nanh vuốt của Bắc Kinh. Bruxelles đã « nhiều lần xác nhận an ninh của khối này có liên hệ đến an ninh của Đài Loan ». Nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng nhất vào Đài Loan không phải là Trung Quốc hay Mỹ mà lại là Liên Hiệp Châu Âu Liên Âu. Những tham vọng khác nhau về Đài Loan Đành rằng công nghệ bán dẫn là « chìa khóa để thống lĩnh thế giới trong thế kỷ 21 » mà cả Mỹ và Trung Quốc cùng đang tranh giành, còn Liên Âu thì muốn tự chủ về lĩnh vực này, thế nhưng cả Bắc Kinh lẫn Washington, hay Bruxelles đều có những lý do khác nữa để chinh phục Đài Loan : Trung Quốc thì cần mở rộng thêm những cửa ngõ ra biển mà eo biển Đài Loan là một « cột trụ trong chiến lược đó », theo đánh giá của giáo sư địa chính trị Hugo Billard, trường Saint Michel Picpus, Paris. Trong mắt Hoa Kỳ, Đài Loan là một mắt xích trong « chuỗi trân châu » bao quanh Trung Quốc bảo đảm an ninh cho các căn cứ quân sự Washington đã thiết lập trong vùng châu Á từ sau thế Chiến Thứ Hai. Còn với Liên Hiệp Châu Âu, hiện thời Đài Loan là một công cụ hữu ích để mặc cả với Trung Quốc, đổi lấy một mối quan hệ « cân bằng hơn » về mậu dịch và đầu tư. Dù vậy, theo phân tích của Valérie Niquet, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS, chỉ nội việc cộng đồng quốc tế quan tâm đến Đài Loan cũng đủ để Bắc Kinh tức giận và càng phải khẳng định đấy là một « tỉnh » của Hoa Lục. Mỗi thành công của nữ tổng thống Thái Anh Văn về kinh tế, ngoại giao, hay y tế, như kinh nghiệm với đợt dịch Covid-19 vừa qua, không khác một lời thách thức nhắm vào chính quyền Tập Cận Bình. Trong bối cảnh đó, dễ hiểu rằng Hoa Kỳ và cả Liên Âu đều tăng tốc đối thoại với Đài Loan.

9m
Jun 14
Phi toàn cầu hoá: Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và đa cực

Đại dịch Covid-19 và chiến tranh Ukraina đã khiến thương mại thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu như từ đầu những năm 2000, phi toàn cầu hoá được xem là một giả thuyết, thì đến nay dường như xu hướng này đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Phải chăng toàn cầu hoá đã chấm dứt, nhường chỗ cho một xu hướng phát triển mới về kinh tế và cả về chính trị ?   Thuật ngữ phi toàn cầu hoá được cho là xuất hiện từ thế đầu thế kỷ XXI, do nhà xã hội học Philippines Walden Bello đưa ra, trong cuốn sách “Deglobalization, ideas for a New World Economy” (Phi toàn cầu hoá, những ý tưởng cho một nền kinh tế thế giới mới). Theo ông Bello, phi toàn cầu hoá không phải là một bước lùi và cũng không đặt dấu chấm hết cho thương mại quốc tế, mà chỉ là tìm cách rút ngắn các chu trình sản xuất. Xu hướng này xuất phát từ những bất cập và thiếu quy định rõ ràng, dẫn đến việc mất kiểm soát thị trường, đặc biệt là ở những nước mới trỗi dậy. Phi toàn cầu hoá tố cáo quyền lực, chỉ trích của các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) hay Tổ Chức Kinh Tế Thế Giới (WTO). Tại Pháp, khái niệm phi toàn cầu hoá xuất hiện vào năm 2011 trong các bài phát biểu của chính trị gia Arnault Montebourg và sau đó được nhà kinh tế Jacques Sapir phát triển trong cuốn sách“Démondialisation” ( Phi toàn cầu hóa ) xuất bản cùng năm. Vào thời điểm đó, phi toàn cầu hoá được xem là một giả thuyết. Thế nhưng, trong những năm gần đây, vụ tắc nghẽn ở kênh đào Suez, việc các nước đóng cửa biên giới vì đại dịch và cuộc chiến tranh ở Ukraina, đã làm gián đoạn các chuỗi cung ứng quan trọng của thế giới, hạn chế dòng chảy của các mặt hàng thiết yếu như vi mạch điện tử, khí đốt và thực phẩm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến giao thương quốc tế. Các nước tích cực tham gia, thậm chí là phụ thuộc vào thị trường thế giới, trở thành những nước dễ bị tổn thương nhất. Dường như đó là những lời cảnh tỉnh về những tác động của toàn cầu hoá từ 40 năm qua. Theo nhà kinh tế học Jacques Sapirs, ngay từ những năm 2000, các tác động tiêu cực của toàn cầu hoá đã vượt hơn những lợi ích mà xu thế này mang lại. Vậy phi toàn cầu hoá là gì ? Khái niệm này đã thay đổi từ nhiều năm qua. Trong bối cảnh hiện nay, có thể hiểu đó là chủ nghĩa bảo hộ, là việc đưa ra mức thuế quan cao hơn để tính đến chi phí môi trường và xã hội của hàng hoá, giảm vận chuyển hàng hoá ở khoảng cách xa, thúc đẩy sản xuất tại địa phương, áp dụng lại các biện pháp kiểm soát vốn nhằm giảm ảnh hưởng của tài chính đối với nền kinh tế toàn cầu… Về chủ đề này, RFI Tiếng Việt trao đổi với nhà kinh tế học Jacques Sapir, giám đốc nghiên cứu tại trường l’École des Hautes Études en Sciences Sociales (EHESS). RFI : Phi toàn cầu hoá xuất hiện từ bao giờ ? Jacques Sapir : Phó chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới, kinh tế gia Carmen Reinhart vào năm 2021 từng nói rằng khủng hoảng Covid-19 là chiếc đinh cuối cùng đóng vào “cỗ quan tài” toàn cầu hoá. Vậy nếu đại dịch Covid-19 là sự kiện cuối cùng thì đâu là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự tàn lụi của toàn cầu hoá ? Theo tôi đó là một chuỗi các sự kiện, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Tiếp theo đó là hàng hoạt các chính sách, chiến lược của một số quốc gia, bắt đầu đưa ra lập trường “chống toàn cầu hoá”, không hoàn toàn chấm dứt giao thương quốc tế, mà là dần dần rút khỏi một thị trường toàn cầu khổng lồ, thay vào đó là đi tìm kiếm các thoả thuận riêng. Chúng ta đã chứng kiến những gì mà cựu tổng thống Mỹ Donald Trump làm. Đó là việc quay trở lại với chủ nghĩa bảo hộ. Hay cuộc trưng cầu dân ý của Vương Quốc Anh về việc ra khỏi Liên Hiệp Châu Âu và cách thức mà chính phủ của Boris Johnson rời khỏi khối này. Thêm vào đó là các hiện tượng khác thiên về kinh tế hơn: các quốc gia tìm cách giảm phụ thuộc và xây dựng tính tự chủ, dần thoát khỏi ràng buộc với thị trường quốc tế. Trong bối cảnh này, đại dịch Covid-19 bùng nổ. Chính đại dịch đã cảnh tỉnh thế giới, khiến giới chính trị nhận thức được rằng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia - được phát triển trong giai đoạn toàn cầu hoá, có nhiều bất cập và điểm yếu. Và cuộc khủng hoảng Ukraina chỉ làm trầm trọng hơn và làm quá trình phi toàn cầu hoá diễn ra nhanh hơn. RFI: Vậy theo ông, điều gì sẽ xảy ra khi quá trình phi toàn cầu hoá được đẩy nhanh hơn bởi cuộc chiến ở Ukraina? Thế giới sẽ phát triển theo hướng nào ? Jacques Sapir : Cuộc khủng hoảng địa chính trị ở châu Âu mà chúng ta đang trải qua hiện nay để lại nhiều hậu quả, không chỉ là những vấn về liên quan đến kinh tế quốc tế. Những gì mà chúng ta có thể thấy rõ ràng đó là, nếu muốn duy trì một thế giới, mà ở đó các quốc gia phụ thuộc chặt chẽ vào nhau. Trong trường hợp này, không thể loại bỏ một quốc gia - nhà xuất khẩu lớn về nguyên liệu thô như Nga. Thế giới sẽ phân khúc theo nhóm các nước hợp tác riêng với nhau. Đó là việc quay trở lại giao thương theo các khối. Xu hướng này được tạo ra bởi các lệnh trừng phạt kinh tế hơn là bởi các quyết định chính trị. Tôi cho rằng sự năng động của các khối này có thể trở thành xu hướng phát triển của thế giới trong những năm tới, tức là một thế giới đa cực. Nếu như vào những năm 1990-2000, giai đoạn “thăng hoa” của toàn cầu hoá, quyền lực của các quốc gia suy giảm và chuyển vào các định chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc, hay Liên Hiệp Châu Âu ở châu Âu, thì hiện nay, với đại dịch Covid-19 và khủng hoảng Ukraina, chúng ta có thể thấy một xu hướng đang trỗi dậy đó là Nhà nước pháp quyền. Theo tôi, điều này hoàn toàn căn bản. Quyền lực quay trở lại vào tay của mỗi Nhà nước, các nhân vật trung tâm chủ chốt của nền kinh tế và chính trị quốc tế. Thế giới có thể sẽ chuyển sang một hệ thống liên minh và chiến lược. Chúng ta có thể thấy sự trở lại của các kết nối giữa các quốc gia qua các hiệp ước, thoả thuận song phương, đa phương. Tức là các quốc gia hợp tác với nhau và không bị áp đặt bởi các quy định quốc tế. Ví dụ như là sự hùng mạnh của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương. NATO không phải là một tổ chức đa quốc gia có cơ cấu hành chính vượt ra ngoài ranh giới mỗi quốc gia, mà là một tổ chức có tư cách pháp lý quốc tế riêng. RFI : Vậy phải chăng toàn cầu hoá đã đi đến hồi kết? Như vậy thì kinh tế quốc tế sẽ bị ảnh hưởng ra sao ? Jacques Sapir : Theo tôi, khái niệm toàn cầu hoá đang chết dần chết mòn, nhưng cần phải lưu ý, toàn cầu hoá kết thúc không có nghĩa là giao thương quốc tế chấm dứt. Lịch sử cho thấy ngay cả trong những giai đoạn cực kỳ bảo thủ, thương mại quốc tế vẫn phát triển. Các quốc gia đóng cửa, “tự vệ”, nhưng không có nghĩa là ngừng giao thương với các nước khác. Bảo hộ mậu dịch không ngăn chặn sự phát triển của xu hướng tự cung tự cấp. Nhưng không phải tự dưng mà có hai khái niệm khác nhau, mô tả hai tình huống khác nhau. Chủ nghĩa bảo hộ đó có nghĩa là một đất nước tự bảo vệ mình, nhưng vẫn tiếp tục giao thương với láng giềng, trong khi một nước tự cung tự cấp hoàn toàn trên thực tế chưa bao giờ tồn tại. Theo tôi, chủ nghĩa bảo hộ đang phát triển mạnh hơn nhiều và có vẻ như không hẳn gây ra trở ngại ở một mức độ nào đó đối với thương mại quốc tế. Ví dụ, vào năm 1914, thế giới bị bao trùm bởi chủ nghĩa bảo hộ. Thế nhưng, trên thực tế, Đức và Pháp là hai khách hàng lớn nhất của nhau. Điều này không hề ngăn chặn cuộc chiến 1914 - 1918.Nhưng đây là một vấn đề khác. Theo tôi, chúng ta đang quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ, mà ở đó các chuỗi cung ứng đa quốc gia đã tồn tại. Tức là một sản phẩm nào đó được sản xuất ở một nước nào đó khác, nhưng có thể những kết cấu/thành phần của sản phẩm được gia công hay lắp ráp ở một nước thứ ba, thậm chí là nước thứ tư. Tôi cho rằng chúng ta sẽ quay trở lại thời kỳ mà các sản phẩm được sản xuất tại địa phương, theo cơ cấu sản xuất của mỗi quốc gia. Dĩ nhiên, các nền kinh tế vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu thô, nhưng rất có thể sẽ tìm cách tự sản xuất một phần nguyên liệu phải nhập khẩu. Chúng ta có thể thấy một hình thức hỗn hợp trong việc làm ra một sản phẩm, tức là một phần nào đó của sản phẩm được sản xuất ra trong nước, còn phần khác thì được nhập khẩu từ các nước khác - giữa những nước có quan hệ hợp tác với nhau. RFI: Vậy với xu hướng phi toàn cầu hóa, một tổ chức như Liên Hiệp Châu Âu liệu có thể sống sót? Jacques Sapir : Theo tôi Liên Âu có thể tồn tại nếu hiểu được tầm quan trọng của sự đa dạng trong khối, và theo hướng này, thay vì đi tìm một mô hình kiểu mẫu để áp dụng đối với toàn bộ các nước thành viên, thì nên chia sẻ một số giá trị chung, những nguyên tắc và lợi ích mà không thể chia sẻ với bất cứ quốc gia nào khác. Nước nào cũng có những ưu tiên riêng và vạch ra hướng phát triển riêng. Ví dụ như về chính sách môi trường, Pháp và Đức có nhiều điểm khác biệt. Cả hai quốc gia đều có chính sách chuyển đổi năng lượng. Tuy nhiên, Đức từ chối phát triển năng lượng hạt nhân bất chấp việc gia tăng nhu cầu về năng lượng hoá thạch để sản xuất điện, từ than đá nhập khẩu của Ba Lan hay khí đốt của Nga. Trong khi đó Pháp lại hướng đến tự chủ năng lượng quốc gia và phát triển năng lượng hạt nhân. Đó là hai chiến lược khác nhau, và tôi cho rằng không cần thiết phải cố gắng hài hoà điều này.

9m
Jun 07
Tham gia IPEF của Mỹ : Châu Á được gì ?

Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ -Thái Bình Dương (IPEF) là một công cụ mới của Mỹ để kềm tỏa ảnh hưởng kinh tế và chính trị ngày càng lớn của Trung Quốc. Để khởi động lại chiến lược xoay trục sang châu Á, tâm điểm địa chính trị và địa kinh tế của thế giới trong thế kỷ 21, Washington cần trả lời được hai câu hỏi : tham gia IPEF có lợi ích gì về thương mại, đầu tư ? Liệu IPEF có thể tồn tại sau thời đại Biden ? Hôm 23/05/2022, tại Tokyo lãnh đạo Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ thông báo cùng 10 đối tác, trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc hay Singapore, New Zealand, Úc …  cam kết tham gia Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ -Thái Bình Dương IPEF. Đài Loan, Trung Quốc và Cam Bốt, Lào, Miến Điện không được mời tham gia.   Năm năm sau khi Washington ra khỏi Hiệp định tự do mậu dịch xuyên Thái Bình Dương TPP, chính quyền Biden đưa ra một công cụ mới nhằm củng cố vị thế của Mỹ trong khu vực, làm đối trọng với ảnh hưởng ngày càng lớn của Bắc Kinh cả về kinh tế lẫn địa chính trị.  IPEF không là một thỏa thuận thương mại   Những tài liệu được công bố tới nay cho phép đưa ra một số nhận xét như sau về IPEP : thứ nhất, Khuôn Khổ Kinh Tế đó không phải là một dự thảo về một hiệp định tự do mậu dịch giữa Hoa Kỳ và các đối tác trong vùng Ấn Độ -Thái Bình Dương. Hơn nữa Washington tạm thời bác bỏ khả năng gia nhập trở lại Hiệp định tự do mậu dịch xuyên Thái Bình Dương phiên bản mới CPTPP sau khi chính quyền Trump năm 2017 đã rút Mỹ ra khỏi một sáng kiến do chính Hoa Kỳ đề ra trong chiến lược « xoay trục sang châu Á ».   David Dapice, giám đốc trung tâm nghiên cứu về Việt Nam của Ash Center trường Harvard Kennedy School giải thích : Sáng kiến của Washington không đưa ra bất kỳ một cam kết cụ thể nào về thuế xuất nhập khẩu giữa Hoa Kỳ với các thành viên khác, về viễn cảnh hàng của từ Nhật Bản đến Ấn Độ hay Hàn Quốc, Việt Nam … dễ tiếp cận với thị trường Mỹ hơn. Các bên hoàn toàn không xem IPEF là đòn bẩy cho thương mại trong khối.   Theo phân tích của chuyên gia Mỹ, trường Harvard Kennedy School, IPEF không thể là một cơ sở tiền đề dẫn tới một hiệp định tự do mậu dịch bởi  7 trong số 13 nước tham gia Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ-Thái Bình Dương là các thành viên Hiệp Hội ASEAN mà về thương mại thì Mỹ trong thế nhập siêu so với các đối tác này. Chính quyền Biden không vội mở cửa thêm thị trường Mỹ cho các đối tác Đông Nam Á.   Các thông cáo chính thức của Nhà Trắng, phủ tổng thống Hàn Quốc hay Úc đều nhấn mạnh đến những con số như : « Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ -Thái Bình Dương hiện tại được 13 quốc gia hưởng ứng, liên quan đến vận mệnh của một khu vực với hai tỷ rưỡi dân, tương đương với 32 % dân số toàn cầu và có trọng lượng kinh tế gần 41 % GDP của thế giới ».   Để so sánh, Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Toàn Diện Khu Vực RCEP, một sáng kiến của Bắc Kinh, quy tụ 15 thành viên, trong đó có cả những đồng minh thân thiết nhất của Hoa Kỳ như là Hàn Quốc hay Nhật Bản, nhưng về kinh tế trọng lượng của RCEP (RCEP tạo ra khoảng 30,5 % GDP toàn cầu) thấp hơn so với IPEF vừa được Washington đề xướng.   Sức thuyết phục của « một tầm nhìn » và những « chuẩn mực » ?   Điểm thứ nhì công luận được biết tới nay về sáng kiến của Mỹ là IPEF sẽ là công cụ để « đối mặt với những thách thức kinh tế trong thế kỷ XXI » qua bốn ưu tiên « Thiết lập các quy tắc điều hướng cho nền kinh tế kỹ thuật số », « bảo đảm chuỗi cung ứng hoạt động một cách an toàn », « tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển năng lượng sạch, qua đó đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi năng lượng », chống biến đổi khí hậu và cuối cùng là « nâng cao các tiêu chuẩn về tính minh bạch, công bằng thuế khóa, chống tham nhũng »   13 nước tham gia dự án, không nhất thiết phải hội tụ đủ các điều kiện trong cả bốn lĩnh vực vừa nêu. David Dapice cho rằng nguyên tắc này nhằm tránh đẩy các đối tác của Mỹ tại khu vực vào thế phải « chọn lựa giữa Mỹ và Trung Quốc ». Một điểm khác nữa được giám đốc Ash Center trường Harvard Kennedy School ghi nhận đó là IPEF của chính quyền Biden lần này đã nhắc lại một trong những điểm then chốt từ bài diễn văn năm 2011 thời Barack Obama : « Viết ra các quy tắc định hướng » cho nền kinh tế của thế kỷ XXI và Mỹ không chấp nhận để cho Trung Quốc áp đặt những quy tắc định hướng đó với phần còn lại của thế giới. Do vậy trên trang mạng của báo Nhật The Diplomat (hôm 26/05/2022) chuyên gia về quan hệ quốc tế Mohammadbagher Forough Viện Nghiên Cứu Toàn Cầu và Khu Vực GIGA của Đức đánh giá IPEF là « nỗ lực thứ nhì của Mỹ để xoay trục sang châu Á », giành lại vị thế về kinh tế sau khi đã quyết định đứng ngoài CPTPP và không tham gia hiệp định RCEP của Trung Quốc.   Câu hỏi còn lại là diễn văn của tổng thống Biden tại Tokyo vừa qua, cũng như Khuôn Khổ Kinh Tế Ấn Độ-Thái Bình Dương có sức thuyết phục hay không khi mà Nhà Trắng chẳng những không đáp ứng được những chờ đợi của châu Á (về thương mại và giảm các hàng rào quan thuế) mà chỉ nhấn mạnh đến một khu vực bảo đảm công việc làm cho « ba triệu người Mỹ », rót vào Hoa Kỳ « gần 900 tỷ đô la đầu tư trực tiếp nước ngoài » và trong chiều ngược lại thì « Mỹ đầu từ gần 970 tỷ đô la vào Ấn Độ-Thái Bình Dương ».   Trả lời đài truyền hình Mỹ CNBC, David Adelman, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Singapore hiện điều hành quỹ đầu tư Krane Funds Advisors, trụ sở tại New York cho rằng trước mắt châu Á thận trọng với Mỹ là điều dễ hiểu :  « Trong bối cảnh hiện tại theo tôi các bên sẽ đàm phán gay go về từng chi tiết một trong văn bản thỏa thuận, tương tự quá trình thương thuyết về Hiệp định tự do mậu dịch xuyên Thái Bình Dương TPP. Thái độ hoài nghi đối với Mỹ của một số bên tham gia là điều dễ hiểu. Tổng thống Biden có những mối quan tâm về chính trị nội bộ của Hoa Kỳ, vì thế ông đã không đưa ra nhiều cam kết cụ thể với các lãnh đạo quốc tế trong vòng công du châu Á vừa qua. Tuy nhiên việc các bên đồng ý tham gia vào IPEF đã là một tín hiệu đáng khích lệ. Đây là điểm khởi đầu mở ra những giai đoạn kết tiếp, dù vậy tôi không dám lạc quan quá đáng ».  Bên cạnh đó IPEF như chính tổng thống Biden đã nhấn mạnh đến một « tầm nhìn » của Mỹ để Hoa Kỳ và các đối tác Ấn Độ -Thái Bình Dương cùng nhau « viết ra các quy tắc định hướng » chung cho kinh tế khu vực. Trong khi đó thì CPTPP với vai trò chủ đạo của Nhật Bản đã đi vào hoạt động, còn Trung Quốc đã thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại-đầu tư với tất cả các quốc gia trong vùng, thậm chí không chừa các hòn đảo tí hon ở Thái Bình Dương, qua hàng loạt các chương trình từ Con Đường Tơ Lụa thế kỷ 21, đến RCEP và thông qua các hiệp định tự do mậu dịch song phương … Washington dưới thời tổng thống Trump hay Biden thì chẳng qua chỉ là « rượu cũ bình mới », để tập trung vào chính sách America First. Cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Singapore David Adelman gián tiếp trả lời câu hỏi IPEF có là một công cụ giảm thiểu tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh hay không.   « Có những trở ngại thực sự trong tiến trình đàm phán với các đối tác của Hoa Kỳ. Chúng ta biết rõ những khúc mắc đó sẽ liên quan đến các chuẩn mực về lao động, về môi trường. Cần vượt được qua những khó khăn ấy thì mới mong dễ thâm nhập vào thị trường của Mỹ hơn hay là để đàm phán về các hàng rào quan thuế … Trước mắt, IPEF không đề cập đến các vấn đề cụ thể này. Hơn nữa không phải tình cờ mà trong vòng công du Hàn Quốc vừa qua, Joe Biden đã tham quan nhà máy của Samsung và ông đã đề cập đến các dự án đầu tư của Samsung tại Mỹ. Tương tự như vậy, tại nhà máy xe hơi Huyndai, tổng thống Hoa Kỳ nhấn mạnh đến chương trình đầu tư của tập đoàn xe hơi Hàn Quốc này tại bang Georgia. Trước bầu cử giữa nhiệm kỳ -tháng 11/2022, ngay cả trong chuyến xuất ngoại, tổng thống Mỹ cũng nói đến các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hoa Kỳ với mục đích trấn an công luận Mỹ »   Bài học từ TPP của Obama ?   Giám đốc trung tâm nghiên cứu Ash Center, Harvard Kennedy School, David Dapice nhìn nhận IPEF hiện vẫn còn là một khái niệm « trừu tượng » và cũng chưa rõ là công cụ đó sẽ « kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc » ở Ấn Độ -Thái Bình Dương dưới hình thức nào, hiệu quả đến đâu.   Chính quyền Biden đề xuất IPEF trong bối cảnh Mỹ không thể tiếp tục đứng ngoài một khu vực mà kinh tế, thương mại càng lúc càng được kết nối với những hiệp định CPTPP hay RCEP … Nhà Trắng ý thức được rằng, củng cố sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á-Thái Bình Dương về mặt an ninh không thôi chưa đủ mà cần phải bổ sung thêm bằng những cam kết kinh tế mạnh mẽ hơn. Hiềm nỗi, chính quyền Biden không thể bảo đảm với các đối tác được là IPEF sẽ được cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ cũng như công luận Mỹ ủng hộ. Trong khi đó thì châu Á đã « rút kinh nghiệm » từ bài học TPP : một sáng kiến được tổng thống Barack Obama, với Joe Biden ở cương vị phó tổng thống, đưa ra nhưng rồi, khi Nhà Trắng đổi chủ, thì ông Donald Trump đã không ngần ngại « xé bỏ thỏa thuận đó vào sọt rác ». Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ hồi 2016, Hillary Clinton thậm chí cũng đã mạnh mẽ tấn công TPP của ông Obama.   Nói cách khác, Ấn Độ-Thái Bình Dương cần được bảo đảm là IPEF sẽ tiếp tục tồn tại ngay cả một khi Nhà Trắng đổi chủ. Đó là điều mà Biden không thể hứa trước với các đối tác Á châu.   IPEF được đưa ra trong bối cảnh hình ảnh của Bắc Kinh đang xấu đi vì thái độ hung hăng của những nhà ngoại giao « chiến binh sói » Trung Quốc, nền kinh tế thứ nhì thế giới này lao đao vì chính sách « zero covid ». Dù vậy Trung Quốc vẫn là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong hệ thống thương mại quốc tế. Ảnh hưởng, trọng lượng của Trung Quốc tại châu Á lớn hơn so với của Mỹ. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các đối tác Ấn Độ-Thái Bình Dương của tổng thống Biden « cai nghiện hàng Trung Quốc » hay giảm thiểu mức độ lệ thuộc vào trung tâm kinh tế, công nghiệp đó ? Các đối tác của Mỹ từ các nước nhỏ như Việt Nam hay Singapore đến những cường quốc công nghiệp như Nhật Bản, Hàn Quốc … đều là những quốc gia thực dụng. Không khó để cân nhắc giữa một bên là các « dự án đầu tư dù không hoàn hảo », bên kia là những « chuẩn mực » và đề xuất về « một tầm nhìn chung ». Không khó để hiểu rằng, tổng thống Biden hay người tiền nhiệm đều đặt quyền lợi của người Mỹ lên trên hết. Hoa Kỳ đang phải đối phó với lạm phát, thậm chí thiếu một số mặt hàng như sửa cho trẻ sơ sinh nhưng xóa bỏ hàng rào quan thuế để hàng rẻ của nước ngoài ồ ạt xâm nhập thị trường Mỹ là điều đa số công luận khó có thể chấp nhận.

9m
May 31
Nguy cơ khủng hoảng kinh tế Trung Quốc ở phía trước

Mùa xuân 2020 Trung Quốc tự hào tuyên bố là nền kinh tế đầu tiên trên thế giới « sang trang » dịch Covid-19 trong lúc các nhà máy tại Âu, Mỹ phải đóng cửa vì virus corona. Gần đúng hai năm sau, biến thể Omicron len lỏi vào những thành trì công nghiệp, vào những thành phố giàu có nhất của Trung Quốc. Chính sách Zero Covid của Bắc Kinh đẩy nền kinh tế thứ hai toàn cầu đến « bên bờ vực thẳm » ? Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường thông báo hàng loạt các biện pháp hỗ trợ kinh tế khắc phục hậu quả Covid gây nên và chính phủ nỗ lực « duy trì ổn định kinh tế, bởi đây là một vấn đề gắn liền với ổn định trong xã hội ». David Baverez, một nhà đầu tư Pháp đã hoạt động từ 10 năm nay tại Hồng Kông trên đài truyền hình France 24 hôm 12/05/2022 vừa qua nhận định : « Hiện tại khoảng 5 % dân số Trung Quốc bị phong tỏa nghiêm ngặt và kèm theo là những tác động về kinh tế nghiêm trọng bởi vì đó là những vùng tạo ra đến 30 % của cải cho đất nước. Hệ thống vận chuyển tại Trung Quốc bị tê liệt gây nhiều ách tắc ». Dồn dập những « báo động đỏ » Thông tín viên Stéphane Lagarde của RFI tại Bắc Kinh đưa ra thêm một số thông tin khác cụ thể hơn như là một chuỗi nhà hàng ở Bắc Kinh đã phải đóng cửa 20 % các chi nhánh ; các doanh nghiệp sa thải nhân viên vì không ký thêm được hợp đồng ; những toán công nhân tại những khu vực ở thủ đô Trung Quốc còn chưa bị phong tỏa khoanh tay ngồi nhìn và chờ đợi được giao công việc. Bắc Kinh chưa bị phong tỏa toàn bộ nhưng từ nhiều tuần qua dân cư ở đây đã chuẩn bị tâm lý cũng như Thượng Hải.  Các số liệu gần đây nhất của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc cho thấy chỉ số bán lẻ trong tháng 4/2022 giảm 11 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Chỉ số thất nghiệp tăng mạnh, cao gần bằng so với đỉnh điểm Covid-19 hồi tháng 2/2020 khi mà Vũ Hãn bị phong tỏa hoàn toàn. Sản xuất công nghiệp tụt giảm mạnh. Lĩnh vực địa ốc lún sâu vào khủng hoảng : thêm một đại tập đoàn mua bán nhà đất của Trung Quốc là Sunac mất khả năng thanh toán gần 30 triệu đô la nợ đáo hạn của tháng 4/2022. Các hợp đồng mùa bán nhà giảm 39 % so với cùng thời kỳ năm ngoái trong lúc mà địa ốc là một trong những động lực tăng trưởng của Trung Quốc. Thêm vào đó là hình ảnh hàng ngàn tàu chở hàng ách tắc tại hải cảng lớn như Thượng Hải, Thâm Quyến hay Hồng Kông – ba trong số 10 bến cảnh lớn nhất của thế giới, hàng loạt các nhà máy phải đóng cửa hay chỉ hoạt động tối thiểu. Theo thẩm định của giới chuyên gia Trung Quốc, sau một tháng bị phong tỏa nghiêm ngặt, hoạt động tại thành phố Thượng Hải giảm 40 % so với hôm 28/03/2022. Trong bối cảnh đó Trung Quốc đã dự báo một tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất từ thập niên 1990 tới nay, là 5,5 %. Giới trong ngành đồng thanh cho rằng ngay cả mục tiêu khiêm tốn này cũng khó có thể đạt được. David Baverez : « Mục tiêu 5,5 % hoàn toàn ngoài tầm tay của Bắc Kinh. Chúng tôi đang chuẩn bị công bố báo cáo về thực trạng kinh tế Trung Quốc và dự phóng là GDP nước này chỉ tăng khoảng 2 % mà thôi và có thể là còn thấp hơn một chút. Dù vậy điều quan trọng là kinh tế có thể bị sa sút nhưng đà phục hồi của Trung Quốc vẫn có thể tăng lên mạnh trong 6 tháng cuối năm nhờ Bắc Kinh đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Nhưng khoản đầu tư đó không đem lại lợi nhuận và đó là cả một vấn đề đối với Trung Quốc ». Tiêu thụ, xuất khẩu : cả hai đầu máy cùng bị hỏng Giáo sư kinh tế đại học Paris I-Panthéon-Sorbonne bà Anne Sophie Alsif phân tích thêm : « Tôi cũng cho là sẽ khó duy trì được tăng trưởng 5,5 %, nhất là trong bối cảnh mà những khách hàng lớn của Trung Quốc như là Mỹ và Châu Âu cũng đang gặp khó khăn, phải đối mặt với lạm phát và đang chuẩn bị siết chặt chính sách tiền tệ. Thêm vào đó là những thách thức tồn tại từ đại dịch Covid-19 làm xáo trộn chuỗi cung ứng toàn cầu … Dù vậy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, có thể không đạt được mục tiêu 5,5 % nhưng đó không phải là một sự sụp đổ, và cũng không phải là một sự hoảng loạn ». Nhà kinh tế Jean Paul Chang, cũng trên đài truyền hình France 24 nhấn mạnh đến quyết tâm của Bắc Kinh triệt để bài trừ Covid bất chấp những hậu quả tai hại về kinh tế, ngay cả trong trường hợp đối với một thành phố có trọng lượng lớn như Thượng Hải : « Kịch bản Vũ Hán cách nay hai năm tái diễn. Nhưng đây không phải là quyết định do chính quyền hốt hoảng trước làn sóng dịch lần này. Trái lại Trung Quốc tiếp tục áp dụng các biện pháp cứng rắn, gây trở ngại cho một thành phố lớn như Thượng Hải trong các sinh hoạt hàng ngày. Hậu quả theo là tăng trưởng suy giảm mạnh trong quý 2 năm nay. Điều đó đã được thấy rõ ngay từ cuối tháng 4. Chỉ số trong hoạt động của ngành công nghiệp đã sụt giảm mạnh. Lĩnh vực dịch vụ mất đến 7 điểm trong vỏn vẹn một tháng. Đương nhiên điều này sẽ ảnh hưởng đến mức độ tăng trưởng của cả năm. Thí dụ như hồi 2020, quý 1 cũng rất tệ hại nhưng rồi Trung Quốc vẫn giữ được tỷ lệ tăng trưởng cho cả năm là 3,3% » Tuy vậy Jean Paul Chang cảnh báo, chủ trương zero Covid của Bắc Kinh đang hủy hoại động cơ hiệu quả nhất để đem về tăng trưởng là tiêu thụ nội địa trong lúc mà xuất khẩu gặp khó khăn : « Trong quý 1 năm nay, GDP Trung Quốc tăng thêm 4,8 % , trong đó 3,3 % có được là nhờ tiêu thụ nội địa ; 1,3 % là nhờ đầu tư và chỉ có 0,2 % là nhờ xuất khẩu. Tiêu thụ do vậy là động lực tạo ra tăng trưởng cho Trung Quốc. Thế nhưng trong quý hai, các đợt phong tỏa liên tiếp khiến tiêu thụ giảm mạnh, thất nghiệp tăng lên và đương nhiên là sẽ đè nặng lên tỷ lệ tăng trưởng trong cả năm ». Tại nơi được mệnh danh là công xưởng của thế giới thì hàng loạt các nhà máy đã phải đóng cửa. Là nguồn xuất khẩu hàng hóa cho thế giới nhưng các hải cảng lớn đang bị tê liệt, tàu bè trong thế « nội bất xuất, ngoại bất nhập ». Thêm vào đó là những tác động phụ từ chiến tranh Ukraina tràn sang đến tận các nhà máy Trung Quốc như giải thích của chuyên gia kinh tế Jean Paul Chang : « Những rối loạn trong chuỗi cung ứng xuất phát từ Covid-19, điều đó vẫn còn tính thời sự và vẫn ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia chứ không riêng gì Trung Quốc. Kế tới là những căng thẳng về địa chính trị và hậu quả kèm theo là giá năng lượng, nguyên liệu bị đẩy lên cao. Trung Quốc cùng chung số phận với tất cả các nền kinh tế khác trên địa cầu. Trung Quốc nhập khẩu từ dầu khí đến nguyên liệu của các quốc gia khác, nên giá thành các mặt hàng sản xuất tại Trung Quốc cũng sẽ đắt hơn. Xuất khẩu của Trung Quốc cũng bị tác động lây ». Trung Quốc mất điểm với giới đầu tư nước ngoài Báo tài chính Anh Financial Times (ngày 20/05/2022) trích dẫn thăm dò của Phòng Thương Mại Châu Âu tại Bắc Kinh cho thấy 23 % trong số hơn 1.800 thành viên của cơ quan này cho biết có ý định đi khỏi Hoa Lục và 77 % đánh giá« Trung Quốc không còn hấp dẫn như xưa ». Có nhiều yếu tố giải thích cho sự « đổ vỡ » đó giữa các doanh nhân châu Âu và Trung Quốc. Về ngắn hạn ngày nào mà Bắc Kinh còn duy trì chính sách zero Covid, thì vẫn còn rủi ro các nhà máy lại bị đóng cửa, nguy cơ các hoạt động giao thương bị gián đoạn. Nhiều doanh nhân nản lòng. Bên cạnh đó, tại một quốc gia mà hơn một nửa các doanh nghiệp đã được đặt dưới sự lãnh đạo của Nhà nước và nửa còn lại càng lúc chính quyền càng can thiệp nhiều hơn là một trở ngại không nhỏ. Giáo sư Anne Sophie Alsif, đại học kinh tế Paris I-Panthéon-Sorbonne cho rằng, chính sách của ông Tập Cận Bình gần đây muốn thâu tóm kinh tế tư nhân là gáo nước lạnh dội lên các dự án đầu tư nước ngoài : « Trung Quốc là một nền kinh tế tập trung mà ở đó Đảng và Nhà nước định đoạt tất cả. Chúng ta đừng nên quên điều này bất luận là những hệ quả về mặt kinh tế có ra sao đi chăng nữa. Thái độ quyết đoán và mang tính « tập trung » đã được kiểm chứng qua những quyết định của Trung Quốc từ việc tiêm chủng cho đến việc xử lý đại dịch Covid. Trái lại thì phương Tây luôn lý luận dưới lăng kính của những « được, thua ». David Baverez bồi thêm : mọi người lo kinh tế đen tối, đói kém. Ông Tập Cận Bình muốn rằng sau này sử sách viết lại rằng, Covid cướp đi hơn một triệu sinh mạng ở Hoa Kỳ, nhưng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ông, chỉ có « vài ngàn người chết vì virus corona ». Thế giới vẫn cần Trung Quốc  Về câu hỏi liệu rằng nền kinh tế thứ hai toàn cầu có đang đứng bên « bờ vực thẳm » hay không, trước mắt, những khó khăn kinh tế của Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh cuộc đọ sức về thương mại  Mỹ -Trung vẫn kéo dài. Mùa thu này là một cột mốc chính trị hết sức quan trọng đối với cả chính quyền của tổng thống Joe Biden lẫn chủ tịch Tập Cận Bình : Bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ và Đại Hội Đảng ở Trung Quốc. Vì những tính toán chính trị ở trong nước, đấy có thể là cơ hội để Mỹ-Trung Quốc xuống nước một chút, làm lành lại với nhau hay không ? Bắc Kinh cần khởi động lại cỗ máy xuất khẩu và sản xuất. Washington cần hàng rẻ của Trung Quốc để hạ nhiệt lạm phát. Giáo sư Philippe Le Corre giảng dậy tại trường thương mại Pháp ESSEC lưu ý : « Thực tế là thế giới vẫn cần Trung Quốc » hơn nữa, « bản thân người dân Trung Quốc vừa chịu khó, vừa  giỏi xoay xở, có đầu óc kinh doanh với nhiều sáng kiến ». Đó có thể là một lá chủ bài giúp Trung Quốc vượt qua được thử thách kinh tế lần này. Tác động của Omicron về phương diện chính trị hay đối với tương lai sự nghiệp của ông Tập Cận Bình là một chuyện khác.

9m
May 24
Chiến tranh Ukraina : Thế giới mất hai vựa lương thực, nạn đói đe dọa một phần nhân loại

Thêm 193 triệu người trên thế giới bị đe dọa thiếu ăn và gần 40 triệu lâm vào cảnh đói kém. Báo cáo của Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc đầu tháng 5/2022 báo động tình trạng còn nghiêm trọng hơn nữa do xung đột Nga-Ukraina làm tê liệt hai vựa lương thực của nhân loại. Một số chuyên gia lo ngại trước viễn cảnh cơn sốt lúa mì lây sang thị trường gạo của thế giới. Trong phiên giao dịch hôm 16/05/2022, giá lúa mì tăng cao kỷ lục, đạt ngưỡng 450 đô la/tấn. Đây là hậu quả trực tiếp sau khi Ấn Độ thông báo ngừng xuất khẩu ra thế giới, ưu tiên bảo đảm nhu cầu tiêu thụ cho 1,4 tỷ dân. Là quốc gia sản xuất lúa mì lớn thứ hai trên thế giới, với khoảng 110 triệu tấn một năm, nhưng tới nay Ấn Độ không là một nguồn cung cấp loại ngũ cốc này cho thế giới. Dù vậy, tuyên bố của New Dehli vào lúc giá lúa mì đã tăng hơn 30 % so với cùng kỳ năm ngoái càng « đổ thêm dầu vào lửa » và đang tạo nên một sự hoảng loạn trên thị trường nông phẩm quốc tế. Đó là một thị trường đang đứng trước ít nhất ba thách thức : dư âm từ khủng hoảng y tế Covid-19, hạn hán tại châu Âu và châu Mỹ, hai nguồn cung ứng quan trọng trên thế giới, và chiến tranh Nga khởi động tại Ukraina khiến hai vựa lương thực của nhân loại vào vòng xoáy khủng hoảng. Con sốt lúa mì vì xung đột Ukraina Nga tấn công Ukraina đe dọa an ninh lương thực của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi hai bên lâm chiến là nguồn xuất khẩu 30 % lúa mì cho nhân loại, 20 % ngô và lúa mạch, cung cấp đến 80 % dầu ăn cho thế giới. Nếu như Ukraina được mệnh danh là « kho lương thực của châu Âu » thì Nga là « ông vua » trong ngành phân bón. Chiến tranh Ukraina vang dội mãi đến tận Brazil, nơi mà các nhà sản xuất đang lo thiếu phân bón cho các vụ cấy trồng năm nay. Trên đài truyền hình Pháp France 24, kinh tế gia trưởng Tổ Chức Hợp Tác và Pháp Triển Kinh Tế (OCDE),   bà Laurence Boone, báo động : «  Những thông tin gần đây nhất không sáng sủa chút nào. Đầu tiên là về mặt nhân đạo, nhưng kế tới là giá cả nguyên liệu bị đẩy lên cao khiến từ nông phẩm đến khoáng sản cần thiết trong chuỗi sản xuất, năng lượng, cái gì cũng tăng giá và châu Âu đặc biệt dễ bị tổn thương ». Từ cuối tháng 2/2022, 20 triệu tấn ngũ cốc, ngô và lúa mì của Ukraina bị « kẹt » trong vùng biển Azov. Là nhà xuất khẩu lúa mì lớn thứ ba, chiếm đến 12 % thị phần quốc tế, vì chiến tranh, thu hoạch trong năm nay của Ukraina dự báo sụt giảm « tối thiểu là 1/3 ». Một báo cáo của bộ Nông Nghiệp Mỹ lo ngại Ukraina mất đi ít nhất 10 triệu tấn lúa mì trong vụ thu hoạch 2022. Với hơn 4 triệu người dân phải di tản, trai tráng cầm súng chiến đấu, ngành nông nghiệp Ukraina mất đi lực lượng lao động quý giá. Đó là chưa kể 30 % diện tích canh tác màu mỡ nhất của Ukraina nằm trong các vùng có giao tranh. Còn theo nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu về Triển Vọng Kinh Tế và Thông Tin Quốc Tế - CEPII của Pháp, với hơn 41 triệu hecta đất canh tác, Ukraina là một trong 5 nhà sản xuất, xuất khẩu của thế giới và 75 % thu hoạch lúa mì hàng năm của nước này là dành để xuất khẩu. Với hơn 44 triệu dân, một mình Ukraina đủ sức nuôi sống đến 2 tỷ miệng ăn, chiếm 15 % kim ngạch xuất khẩu lúa mạch toàn cầu, 16 % về ngô và 18 % thị phần về dầu hoa cải vàng colza. Một nửa dầu hoa hướng dương tiêu thụ trên thế giới xuất xứ từ Ukraina. Dễ hiểu là nếu như chiến tranh cướp đi 1/3 sản lượng của Ukraina thì chẳng những dân Ukraina lâm vào đói kém mà còn kéo theo cả một phần dân số trên địa cầu. Kinh tế gia Marine Raffray, chuyên nghiên cứu về thị trường lương thực, thực phẩm thuộc Phòng Nông Nghiệp Pháp, phác họa ra một toàn cảnh không mấy khả quan : « Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc nêu bật những dự phóng rất đáng lo ngại, đó là giá lương thực, thực phẩm có thể tăng từ 8 đến 20 % do tác động xung đột giữa Nga và Ukraina gây nên. Chúng ta vừa trải qua đợt đại dịch, giá nhu yếu phẩm đã tăng vọt, chẳng hạn giá ngũ cốc và dầu ăn. Bên cạnh đó, giá phân bón cũng đã tăng rất cao trong thời gian gần đây, mà để trồng trọt thì các nông gia cần mua phân bón. Phân bón tăng giá gấp 3 lần so với trước chiến tranh Ukraina ». Nút thắt ở Hắc Hải Thế giới đang đứng trước một nghịch lý : Vì chiến sự, hàng chục triệu tấn nông phẩm bị kẹt ở Biển Đen, trong lúc một phần dân số trên địa cầu không đủ nhu cầu ngày hai bữa. Marine Raffray, thuộc Phòng Nông Nghiệp Pháp, nhấn mạnh đến khâu chuyên chở để ngũ cốc, dầu ăn của Ukraina đến được tay người tiêu dùng : « Hiện tại, các hải cảng của Ukraina, cửa ngõ xuất khẩu ngũ cốc của nước này, đã ngưng hoạt động vì các cuộc giao tranh. Chúng ta không biết rõ tình trạng tại các cảng này, không biết rằng cơ sở hạ tầng có bị hư hại nhiều hay không và nếu như chiến tranh chấm dứt, thì có thể hoạt động trở lại tới mức độ nào. Về phía Nga, các bến cảng không bị tàn phá, nhưng hoạt động bị gián đoạn vì những bất ổn mang tính quân sự tại Biển Đen. Lúa mì, ngũ cốc … của Nga không thể đến tay khách hàng. Những quốc gia bị thiệt hại nhất gồm các nước trong vùng Bắc Phi, Trung Đông, đặc biệt là trường hợp của Ai Cập ». Một nguồn cung cấp lớn khác của thế giới là Nga thì cũng bị tê liệt. Đất canh tác của nông dân Nga không bị gài mìn như ở một số nơi trên lãnh thổ Ukraina, các trang trại của Nga không bị tàn phá vì chiến tranh, nhưng xuất khẩu của Nga cũng bị kẹt ở Hắc Hải, kèm theo đó là tác động từ các đợt trừng phạt của phương Tây từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina. Đề phòng bị cấm nhập khẩu lương thực, thực phẩm hay mất khả năng thanh toán bằng đô la và euro, ngày 15/03/2022 điện Kremlin ra lệnh ngưng xuất khẩu ngũ cốc cho 4 nước láng giềng lân cận là Belarus, Armenia, Kazakhstan và Kirghizistan. Đó là dấu hiệu cho thấy Matxcơva lo ngại thiếu hụt lương thực để đáp ứng nhu cầu nội địa và khủng hoảng lương thực đe dọa chính bản thân nước Nga. Nạn đói đe dọa từ Ai Cập đến Indonesia và có thể là cả Ấn Độ Dù vậy, tình hình nguy cập nhất đang diễn ra ngoài lãnh thổ Nga. Đối với một phần dân số trên thế giới, bài toán khó là làm thế nào để bảo đảm ngày hai bữa khi mà giá nhu yếu phẩm thiết thực nhất như lúa mì tăng 30 % trong vòng một năm, giá dầu ăn là 23 %, đường, sữa…Ngân Hàng Thế Giới trong khóa họp mùa xuân 2022 báo động, giá lương thực mà tăng 30 % thì số người đói tại Ai Cập tăng thêm 12 %. Năm ngoái, Nga và Ukraina là nguồn cung cấp đến 70 % nhu cầu tiêu thụ lúa mì - nông phẩm chính đối với hơn 105 triệu dân Ai Cập theo thống kê của Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, mà giờ đây Cairo không thể trông cậy vào hai nhà cung cấp này. Nguy cơ đói kém dẫn đến bất ổn xã hội là một mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Tại Iran, chính phủ một mặt ban hành thêm các biện pháp trợ giá mặt khác tăng cường an ninh, dập tắt mọi cuộc xuống đường, chống vật giá leo thang. Theo bà Marine Raffray của Phòng Nông Nghiệp Pháp, cơn sốt nông phẩm không có dấu hiệu thuyên giảm : « Lo ngại càng lúc càng lớn bởi thí dụ như lúa mì tăng giá hơn 30 % so với đúng một năm trước đây và giá cả còn tiếp tục bị đẩy lên cao hơn nữa. Tương tự như vậy, tất cả các nguyên liệu chính của giới nhà nông cũng tăng giá đến chóng mặt. Tôi muốn nói đến phân bón, thuốc trừ sâu hay xăng dầu cho máy cầy ».   Đây là một bài toán không đơn giản đặt ra ngay cả cho các nhà trồng trọt của Pháp, như ông Thierry Bailler trình bày trên đài truyền hình France 24 : « Tình hình đáng lo ngại lắm chứ, vì giá cả có chiều hướng còn thay đổi nhiều hơn nữa với nhiều yếu tố càng lúc càng phức tạp đối với chúng tôi. Đành rằng Ukraina và Nga không sản xuất được, có thể là một cơ hội cho các nông dân Pháp. Chúng tôi có thể xuất khẩu lúa mì, ngũ cốc nhiều hơn … Nhưng đổi lại thì từ phân bón, hạt giống đến xăng dầu… cái gì cũng lên giá. Giá phân bón tăng lên gấp đôi, gấp 3 so với trước. Đối với giới chăn nuôi, đời sống cũng chật vật không kém. Mọi việc khó khăn hơn nhiều so với một năm bình thường ».    Cấm xuất khẩu nông phẩm : Ấn Độ - Indonesia đổ thêm dầu vào lửa Vào lúc thị trường nông phẩm thế giới đã rất căng thì hai quốc gia châu Á đã quyết định tạm ngừng xuất khẩu, thu hẹp thêm mức cung so với cầu. Tháng trước, Jakarta cấm xuất khẩu dầu cọ nhằm đẩy lùi lạm phát trong nước. Là nguồn sản xuất và xuất khẩu dầu cọ lớn nhất thế giới, chiếm đến 60 % thị trường quốc tế, nhưng Indonesia lại nhập khẩu đến 100 % lúa mì và 50 % vào đậu tương, nhập khẩu đến 60 % nhu cầu về năng lượng hóa thạch. Cán cân thương mại của quốc gia Đông Nam Á này không ngừng sa sút, dự trữ ngoại tệ hao mòn trong lúc lạm phát gia tăng, bất mãn trong xã hội qua đó tăng theo. Điều đó phản ánh qua việc tổng thống Joko Widodo mất hơn 15 điểm trong chưa đầy hai tháng. Tại Ấn Độ, thủ tướng Modi có cùng mối lo. Cuối tuần trước, New Dehli bất ngờ thông báo ngưng xuất khẩu lúa mì. Thế giới sẽ mất đi thêm một nguồn cung ứng từ 7 đến 10 triệu tấn trong năm nay. Thực ra, Ấn Độ tuy là một nhà sản xuất lớn, nhưng chủ yếu là để bảo đảm nhu cầu nội địa. Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh Ukraina, cộng đồng quốc tế trông chờ vào sản lượng của Ấn Độ để lấp được một phần chỗ trống mà Ukraina để lại. Nhưng ưu tiên của thủ tướng Narendra Modi là kềm hãm lạm phát và bảo đảm an ninh lương thực cho quốc gia đông dân thứ hai trên địa cầu. Trên đài truyền hình France 24, kinh tế trưởng OCDE Laurence Boone lo ngại những tính toán ích kỷ đó càng đẩy một phần nhân loại đến khủng hoảng lương thực và nạn đói càng có nguy cơ hoành hành : « Bắc Phi và Trung Đông lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu lúa mì của Nga và Ukraina. Đương nhiên là các nhà sản xuất khác trên thế giới có thể tăng diện tích trồng trọt lấp vào phần nào chỗ trống mà hai nước đang có giao tranh để lại, chẳng hạn như dỡ bỏ một số quy định về luật canh tác để gia tăng sản xuất. Ngoài ra cũng cần chú trọng đến khâu vận chuyển lương thực thực phẩm. Sau cùng, điểm quan trọng nhất là các nhà sản xuất tránh phản xạ ích kỷ, ngừng xuất khẩu để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ nội địa trước đã. Thái độ ích kỷ đó đe dọa đẩy một phần nhân loại vào cảnh đói kém ». Giới chuyên gia quốc tế chú ý nhiều đến giá lúa mì, riêng bà Marine Raffray trên đài RFI lưu ý vào lúc giá lúa mì tăng quá cao, một số quốc gia tính đến khả năng thay thế lúa mì bằng gạo. Theo chuyên gia này, thị trường bắt đầu chiếu cố nhiều hơn đến gạo. Đây là một thị trường ổn định, miễn là không bị thiên tai.

9m
May 17
Dầu khí : Mỹ đe dọa thế gần như độc quyền của Nga tại châu Âu

Chiến tranh Ukraina tạm vô hiệu hóa đường ống Nord Stream 2 đưa khí đốt Nga sang châu Âu và làm lộ rõ những kế hoạch từ trước của Hoa Kỳ chinh phục thị trường trên Lục Địa Già. Kremlin có thể dùng lá bài năng lượng để bắt bí Liên Âu được bao lâu nữa hay vô hình chung đang tạo cơ hội cho các nhà sản xuất dầu khí đá phiến của Mỹ bắt rễ vào châu Âu ? Từ khi khởi động chiến tranh Ukraina cuối tháng 2/2022, tổng thống Vladimir Putin liên tục gia tăng áp lực với phương Tây trên bàn cờ năng lượng. Sắc lệnh ký ngày 31/03/2022 như một tối hậu thư đòi Âu, Mỹ dùng đồng rúp để mua dầu, khí của Nga. Một tháng sau, Matxcơva đơn phương tuyên bố ngừng cung cấp khí đốt cho hai thành viên Liên Hiệp Châu Âu là Ba Lan và Bulgari. Liên Hiệp Châu Âu đã mau mắn và mạnh tay trừng phạt Matxcơva xâm chiếm Ukraina nhưng vẫn nương nhẹ một số ngân hàng có liên hệ trực tiếp với ngành dầu khí Nga và nhất là tránh trừng phạt các tập đoàn năng lượng Nga. Bruxelles lúng túng vì năng lượng, điển hình là sau cả tuần lễ đàm phán gay go vẫn chưa nhất trí về giải pháp « cấm vận dầu hỏa của Nga ». Chuyện cai nghiện khí đốt của Nga lại càng khó hơn. Cùng lúc, nhiều thành viên châu Âu đã gấp rút đi tìm các nguồn cung cấp khác, đứng đầu là Mỹ. Về phía Hoa Kỳ, tháng 3/2022 xuất khẩu khí hóa lỏng GNL sang châu Âu tăng gấp 5 lần so với cùng thời kỳ năm ngoái. Từ cuối năm 2021 khi Nga bắt đầu điều quân đến sát biên giới Ukraina, ba tàu chở khí hóa lỏng GNL của Mỹ đang trên đường sang châu Á đã chuyển hướng, quay sang châu Âu. Đành rằng khối lượng GNL ba chiếc tàu này chuyên chở chỉ là « một giọt nước » trong lúc Nga bảo đảm đến 40 % nhu cầu của Liên Âu (theo số liệu thống kê 2019) và trong số các nguồn cung cấp cho châu Âu, Nga bỏ xa là phía sau Na Uy (22 %) và Algérie (7,2 %), hay Qatar (4,6 %). Mỹ gần như vắng bóng, cho dù có khả năng cung cấp và sản xuất còn hơn cả Nga. Trên đài phát thanh France Inter, chuyên gia Pháp về năng lượng, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược - IRIS nhấn mạnh đến tiềm năng rất lớn của Hoa Kỳ nhờ công nghệ khai thác dầu đá phiến : « Từ trước chiến tranh Ukraina, Mỹ đã là nhà sản xuất số 1 trên thế giới về dầu hỏa và khí đốt, đứng trước nước Nga. Hoa Kỳ là một cường quốc về năng lượng hóa thạch với tiềm năng rất lớn và từ nhiều tháng qua, Mỹ đã trở thành một trong ba nhà cung cấp khí hóa lỏng hàng đầu của thế giới cùng với Qatar và Úc. Washington có khả năng tăng thêm sức cung ứng cho các đối tác châu Âu trong những tháng sắp tới và những năm sắp tới. Dù vậy, trong ngắn và trung hạn, một mình nước Mỹ không thể thay thế Nga để phục vụ thị trường Liên Âu cả về dầu hỏa lẫn khí đốt. Giải pháp đối với Bruxelles là phải tìm kiếm thêm các nguồn cung cấp, kết hợp từ Hoa Kỳ đến Qatar, Úc, Algérie, Na Uy, Azerbaijan … Có càng nhiều nguồn cung cấp chừng nào tốt chừng nấy. Với tất cả các đối tác nói trên cộng lại, về lâu dài Liên Hiệp Châu Âu mới có thể cai dầu khí của Nga ». Tranh giành thị trường Với công nghệ khai thác mới, về dầu hỏa, Hoa Kỳ đã qua mặt hai nguồn sản xuất lớn nhất của thế giới là Ả Rập Xê Út và Nga. La Croix trong số báo hôm 18/04/2022 nhắc lại trước viễn cảnh bầu cử giữa nhiệm kỳ vào mùa thu tới đây, để tranh thủ lá phiếu của cử tri, chính phủ Mỹ muốn khởi động lại ngành công nghiệp dầu đá phiến, cho dù điều đó trái ngược với những cam kết ứng viên Joe Biden từng đưa ra khi ông ra tranh cử tổng thống hồi năm 2020. Đầu tháng 04/2022, đại diện một cơ quan bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn khai thác khí GNL của Mỹ tiếp một phái đoàn gồm 12 nước thành viên Liên Âu. Các bên đàm phán và tìm kiếm « những giải pháp trong ngắn hạn » thay thế khí đốt của Nga. Phía Hoa Kỳ khẳng định : « Trong bối cảnh chiến tranh Ukraina, các nhà sản xuất của Mỹ tập trung vào châu Âu ». Từ năm 2016, chính quyền Obama với Joe Biden trong cương vị phó tổng thống đã dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu năng lượng có hiệu lực từ cuộc khủng hoảng dầu hỏa 1975. Sáu năm sau, Mỹ trở thành nhà xuất khẩu khí hóa lỏng GNL số 1 toàn cầu, trước cả Qatar và Úc. Châu Á là thị trường quan trọng nhất của các nhà sản xuất Mỹ. Nhưng đe dọa chiến tranh Ukraina càng cận kề, khối lượng GNL của Mỹ đổ về châu Âu càng lớn. Đầu tháng 2/2022 phát biểu tại Bruxelles, ngoại trưởng Antony Blinken đã nhắc lại sự kiện Nga ngừng cung cấp khí đốt cho châu Âu hồi 2009, nhiều nước trong Liên Âu « điêu đứng », nhưng giờ đây châu lục này có thể trông cậy và Mỹ. Washington cam kết « ngăn cản kịch bản đó tái diễn ». 2022 : Châu Âu là thị trường quan trọng nhất Trên thực tế, thống kê của bộ Năng Lượng Hoa Kỳ cho thấy liên tiếp trong bốn tháng đầu năm 2022, hơn 65 % lượng xuất khẩu GNL của Mỹ là để cung cấp cho châu Âu. Cùng lúc, ý thức được rằng chưa đủ để giải tỏa áp lực của Nga đối với châu Âu về năng lượng, nên chính quyền Biden đã huy động từ các nhà sản xuất quốc gia đến các đồng minh của Hoa Kỳ như Qatar hay Nhật Bản để « ưu tiên » đáp ứng nhu cầu của châu Âu. Chẳng hạn, Nhà Trắng đã yêu cầu Doha « hỗ trợ châu Âu », kêu gọi Nhật Bản chịu khó nhường một phần GNL đã đặt mua của Mỹ cho châu Âu. Dưới thời chính quyền Trump, ngoại trưởng Mike Pompeo, năm 2019, từ mỏ dầu của Mỹ là bang Texas, từng cảnh báo một số quốc gia quá lệ thuộc vào dầu khí của Nga hay Iran và kêu gọi những nước này hãy « khôn ngoan nhìn về phía các nhà sản xuất của Hoa Kỳ » bởi vì « Mỹ không chỉ xuất khẩu năng lượng mà còn xuất khẩu cả một hệ thống những giá trị thương mại đến các nước bạn và các đối tác » của Washington. Ba Lan là một trong số những nước bạn mà cựu ngoại trưởng Pompeo đã nhắc đến. Nhờ đã ký kết với các tập đoàn như Cheniere Energy và Sempra Energy mà Vacxava không lâm vào thế kẹt như Bulgari khi Nga thông báo cắt nguồn cung cấp khí đốt hôm 27/04/2022. Chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, viện nghiên cứu IRIS của Pháp, phân tích : « Rõ ràng là Ba Lan đã có một sự chuẩn bị trước, trước cả thông báo của Nga hôm 27/04/2022 ngừng bán khí đốt cho Vacxava. Không nhiều nhưng Ba Lan có một ngành công nghiệp khí đốt gọi là « có còn hơn không ». Ba Lan cũng có cảng để tiếp nhận khí hóa lỏng được giao cho nước này bằng đường biển. Ba Lan hiện đang có một khối dự trữ về khí đốt tương đương với 80 % nhu cầu tiêu thụ. Không một quốc gia nào trong Liên Âu có được tỷ lệ dự trữ cao như vậy. Rồi sắp tới đây, sẽ có thêm đường ống dẫn khí đốt nối liền Ba Lan và Litva, thêm một tuyến khác nữa dự trù bắt đầu hoạt động từ mùa thu năm nay đưa khí đốt của Na Uy vào Ba Lan. Hoàn cảnh của Bulgari tế nhị hơn : Bulgari không dồi dào dự trữ năng lượng như Ba Lan và cũng không nhập khẩu khí hóa lỏng. Về mặt địa lý, quốc gia này bị cô lập hơn, hiểu theo nghĩa hoàn toàn không có đường ống nào kết nối vào các quốc gia khác trong Liên Âu. Hơn bao giờ hết, Sofia cần được các thành viên còn lại của Liên Hiệp Châu Âu hỗ trợ để vượt qua giai đoạn khó khăn này ». Ba Lan - Bulgari những mục tiêu có chọn lọc của Nga Về câu hỏi tại sao Kremlin lại trút cơn thịnh nộ lên hai thành viên trong Liên Âu là Ba Lan và Bulgari và liệu có dừng lại ở hai quốc gia này hay sẽ còn tiếp tục trừng phạt thêm một số khác nữa để gia tăng áp lực với châu Âu, Francis Perrin trả lời : « Đương nhiên là quan hệ giữa Nga và Ba Lan trong thời gian gần đây đã rất căng. Matxcơva trút thịnh nộ vào Varcaxa bởi đây là cửa ngõ đưa trang thiết bị quân sự và viện trợ của NATO vào Ukraina. Ba Lan là nơi đón nhận đại đa số người tị nạn Ukraina và trong khối Liên Hiệp Châu Âu, Vacxava có lập trường cứng rắn nhất, luôn thúc đẩy thêm các biện pháp trừng phạt Nga xâm chiếm Ukraina. Ba Lan chiếm một vị trí then chốt trong cuộc chiến Ukraina và có thể nói là đang ở tâm điểm bàn cờ địa chính trị của châu Âu và của thế giới. Trường hợp của Bulgari phức tạp hơn, bởi vì cho tới rất gần đây, quan hệ giữa Sofia với Matxcơva khá hữu hảo. Nhưng rồi Bulgari đã thay đổi chính phủ và chính quyền mới giữ khoảng cách với Nga. Có thể là Vladimir Putin coi đó như một sự phản bội bởi vì Kremlin vẫn xem Bulgari thuộc ảnh hưởng của Nga. Thêm một điểm nữa là trong nhãn quan của Matxcơva thì vẫn có một sự phân biệt giữa các nước tây Âu với khối đông và trung Âu trong đó có Ba Lan và Bulgari, vốn từng là các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây, do vậy Kremlin ngỡ rằng Bruxelles sẽ phản ứng chừng mực hơn nếu như nước Nga phạt các nước Đông và Trung Âu cũ ». Phạt Ba Lan và Bulgari, một bài toán trắc nghiệm phản ứng của phương Tây Cũng giám đốc nghiên cứu viện IRIS Francis Perrin lưu ý tổng thống Putin đang dùng lá bài năng lượng như một « quả bóng thăm dò » để nắn gân châu Âu, để thử thách mức độ đoàn kết giữa 27 thành viên Liên Âu và xem chừng phản ứng của Mỹ. Trong mọi trường hợp, thực tế phũ phàng là Ukraina trong cảnh cửa tan nhà nát, nhưng ngành công nghiệp dầu khí của Hoa Kỳ thì đang trông thấy viễn cảnh tươi sáng : Chính quyền Biden cần GNL made in USA vừa để kiếm phiếu của các nhà sản xuất, vừa để hạ nhiệt thị trường xăng dầu nội địa, trong lúc lạm phát tại Hoa Kỳ tháng 3/2022 tăng hơn 8 %, vừa để bành trướng tại châu Âu, và nhất là thu hẹp ảnh hướng quá lớn của Nga đối với Liên Âu. Vấn đề còn lại đối với Bruxelles là cho dù trong tương lai có bớt lệ thuộc vào năng lượng của Nga thì cũng chỉ là để cột chặt số phận vào một nhà cung cấp khác là Mỹ. Còn đối với Matxcơva, không chắc Kremlin dễ dàng chia sẻ thị phần với Washington.

9m
May 10
Đô la và nhân dân tệ, một mặt trận khác của cuộc chiến Ukraina

Trên trận địa Ukraina, mọi chú ý hướng về cuộc đọ sức giữa vũ khí của Nga và Mỹ. Về tài chính, Ukraina có thể là điểm khởi đầu cuộc xung đột giữa đồng đô la Mỹ và nhân dân tệ Trung Quốc. Lệnh trừng phạt Nga xâm chiếm Ukraina khiến Bắc Kinh mạnh dạn hơn để áp đặt một trật tự tiền tệ mới với thế giới. Đâu là những lợi thế và trở ngại để nhân dân tệ soán ngôi đô la ? Liệu rằng thế giới có dám tin vào một đơn vị tiền tệ quốc tế hoàn toàn không tuân thủ luật chơi của thị trường như đồng tiền Trung Quốc ? Chiến tranh Ukraina, bệ phóng cho đồng nhân dân tệ Phương Tây đã ban hành một loạt các biện pháp trừng phạt Matxcơva ngay những ngày đầu tổng thống Vladimir Putin đưa quân xâm chiếm Ukraina. Dự trữ ngoại tệ của hầu hết các ngân hàng Nga tại Hoa Kỳ và châu Âu bị phong tỏa. Nga cũng đã bị loại khỏi hệ thống thông tin ngân hàng quốc tế SWIFT. Nội hai quyết định đó đã đủ để làm dấy lên trở lại viễn cảnh Trung Quốc cùng với một số quốc gia không hữu hảo với Hoa Kỳ như Iran hay Venezuela thành lập một mặt trận « chống đô la » khuynh đảo vị thế của đồng tiền Mỹ trong hệ thống tài chính và tiền tệ toàn cầu. Trong chưa đầy hai tháng, hai đồng minh thân thiết nhất của Washington là Israel và Ả Rập Xê Út đã bắn đi hai tín hiệu theo chiều hướng này : Tel Aviv vừa thông báo, dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương Isral mở cửa đón nhân dân tệ. Riyad từ đầu tháng 3/2022 cho biết đang nghiên cứu khả năng dùng đồng tiền Trung Quốc để thanh toán một phần các hóa đơn xuất khẩu dầu hỏa. Báo tài chính Mỹ Wall Street Journal coi đây là một tin « động trời », bởi từ sau Thế Chiến Thứ Hai, Ả Rập Xê Út tuyệt đối « trung thành » với Mỹ và đã từng nhiều lần đem kho dự trữ dầu hỏa quốc gia để phục vụ lợi ích chính trị,  địa chính trị của Hoa Kỳ. Giờ đây Riyad là nguồn cung cấp đến 25 % dầu hỏa cho Trung Quốc, bắt đầu « chuyển hướng » và đây là « dấu hiệu rạn nứt rõ rệt nhất giữa các nền kinh tế đang trỗi dậy và phương Tây », là bằng chứng mới thể hiện nguyện vọng « tách rời khỏi quỹ đạo của đồng đô la Mỹ » . Trong mắt nhà kinh tế Pháp Michel Aglietta, chuyên gia về tiền tệ và đồng tác giả cuốn Cuộc chạy đua tranh giành thế thượng phong trên về tiền tệ thế giới trước thách thức cạnh tranh Mỹ-Trung- La course à la suprématie monétaire mondiale. A l’épreuve de la rivalité sino-américaine, NXB Odile Jacob (4/2022), đây là thời điểm đồng nhân dân tệ Trung Quốc « lên ngôi ». Mỹ rồi Liên Hiệp Châu Âu phong tỏa dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Trung Ương Nga (gần 50 % trong số hơ 640 tỷ đô la) khiến bản thân Bắc Kinh và không ít quốc gia đang phát triển từ ở châu Phi đến châu Á và cả châu Mỹ Latinh lo sợ. Trung Quốc hiện đang có 3.500 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ và đang nắm giữ  1.000 tỷ công trái phiếu của Hoa Kỳ.  Thuận lợi trong kế hoạch soán ngôi đô la Trong tác phẩm mới cho ra mắt độc giả đầu tháng tư  Michel Aglietta nhấn mạnh trên hai điểm : một là vị trí của đồng đô la trong « giỏ dự trữ ngoại tệ » của thế giới đang từ 70 % hồi năm 2000 nay đã rơi xuống còn 59 %. Trái lại, nhân dân tệ tuy mới chỉ có một chỗ đứng « khiêm tốn » nhưng càng lúc càng được một số quốc gia quan tâm, bởi nguyện vọng « tách rời khỏi quỹ đạo đô la ». Nguyện vọng đó thể hiện mạnh mẽ tại tại khu vực châu Á (trong đó có Việt Nam, Cam Bốt …). Trong bối cảnh đó Michel Aglietta ghi nhận chiến tranh Ukraina càng « thúc đẩy bước tiến của nhân dân tệ trên trường quốc tế và thu hẹp ảnh hưởng của đô la » cho dù là trong ngắn hạn có nhiều khả năng Bắc Kinh không quá lộ liễu thể hiện là điểm tựa mang tính quyết định đối với Nga ở thời điểm này, nhưng Bắc Kinh luôn có tầm nhìn xa và mục tiêu của Trung Quốc là « tăng cường tính độc lập đối với Hoa Kỳ » trên nhiều lĩnh vực từ công nghệ cao đến tiền tệ … Công cụ lợi hại: E-nhân dân tệ Vậy trên con đường chinh phục thế giới đó, Trung Quốc có những lợi thế và trở ngại nào ? Vẫn chuyên gia về tiền tệ Michel Aglietta đánh giá, một trong những lợi thế của Trung Quốc là đồng nhân dân tệ digigal ( kỹ thuật số ), do Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc phát hành, vận hành gần như một đồng tiền bình thường qua ứng dụng điện thoại. Đồng nhân dân tệ digital như vậy được đặt dưới sự quản lý của các giới chức tiền tệ và tài chính Trung Quốc, cho phép quan sát mọi luồng giao dịch, biết rõ tiền bạc được chuyển từ tài khoản nào và đến tay ai. Các hoạt động rửa tiền, trốn thuế khó mà thoát khỏi tai mắt của nhân viên thanh tra. Nhưng có lẽ quan trọng hơn là mục tiêu giảm bớt ảnh hưởng của đồng đô la Mỹ. Hiện tại, 88 % giao dịch thương mại trên thế giới được thanh toán bằng đô la. Để so sánh, cho dù là công xưởng và là quốc gia xuất khẩu số 1 của thế giới, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc chỉ chiếm có 4 %. Ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ dự báo trong 10 năm nữa sẽ có tới 1 tỷ người trên thế giới dùng tiền nhân dân tệ kỹ thuật số và đây sẽ là đơn vị được dùng trong 15 % các khoản giao dịch trên toàn cầu. Virus corona phá hỏng tham vọng của Bắc Kinh ? Tuy nhiên đúng vào lúc Trung Quốc gặp thuận lợi nhờ chiến tranh Ukraina để đẩy mạnh tiến trình « quốc tế hóa » nhân dân tệ thì virus corona lại giáng cho Bắc Kinh một đòn đau. Trả lời RFI Việt ngữ, Michel Santi chuyên gia về kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính, phân tích : Michel Santi : « Vào thời điểm mà cả thế giới đã mở rộng cửa, riêng Trung Quốc vẫn thu mình khép kín trong các các đợt phong tỏa. Bắc Kinh khăng khăng giữ chủ trương zero Covid. Công xưởng của thế giới bị đóng cửa và khoảng 1.000 tàu chở hàng bị kẹt ngoài khơi cảng Thượng Hải, không vào được gần bờ để dỡ hay chất hàng. Giả định Thượng Hải dỡ bỏ lệnh cấm vận ngay bây giờ, cũng phải mất nhiều tuần lễ mới hy vọng giải quyết được tình trạng ách tắc. Có thể nói là trong một chừng mực nào đó, thị trường Trung Quốc đang bị tê liệt và kèm theo đó là những hậu quả tiềm tàng rất tai hại, trước hết là đối với ngành xuất khẩu của nước này. Vào lúc mà Bắc Kinh muốn một phần kim ngạch xuất khẩu phải được thanh toán bằng nhân dân tệ, quyết định phong tỏa chặt chẽ nhiều cảng và thành phố công nghiệp để chống dịch là tín hiệu không hay. Thậm chí chính sách đó hủy hoại những nỗ lực nhằm củng cố uy tín của đồng nhân dân tệ. Bản thân đồng tiền Trung Quốc chưa đủ sức trấn an cộng đồng quốc tế ông Santi phân tích tiếp : Michel Santi : « Như mọi nhà đầu tư, các Ngân Hàng Trung Ương đều phải có một khoản dự trữ ngoại tệ và đương nhiên đó phải là những đơn vị tiền tệ ổn định và dễ hoán đổi sang một ngoại tệ khác. Khác với đô la Mỹ, euro của châu Âu hay đồng yen Nhật Bản, nhà nước Trung Quốc can thiệp để kiểm soát tỷ giá đồng nhân dân tệ. Bắc Kinh kiểm soát từ tỷ giá giao dịch nhân dân tệ đến thị trường và tất cả các doanh nghiệp như là Alibaba … Trong mắt giới tài chính, đó là dấu hiệu cho thấy ‘thị trường Trung Quốc chưa chín muồi’. Hệ quả kèm theo là không dễ hoán đổi đơn vị tiền tệ Trung Quốc để thu vào đô la hay bất kỳ một đơn vị tiền tệ quốc tế có uy tín nào khác. Điều này ảnh hưởng đế quyết định của các Ngân Hàng Trung Ương trên thế giới trong giỏ dự trữ ngoại tệ ». Ngày tàn của đô la còn xa  Như vừa nói, đô la Mỹ vẫn còn nhiều lợi điểm mà không một đơn vị tiền tệ nào có được, kể cả đồng tiền chung châu Âu euro hay yen của Nhật. Cho đến tận ngày nay, đô la « vẫn là vua », chiếm 59 % dự trữ ngoại tệ của thế giới, là đơn vị thanh toán gần 90 % trao đổi mậu dịch toàn cầu. Các nhà đầu tư trên thế giới dường như vẫn chỉ tin tưởng vào đồng tiền của Mỹ. Chuyên gia Michel Santi đánh giá : Michel Santi : « Không có lý do chính đáng nào để nghi ngờ về thế thượng phong của đồng đô la Mỹ. Ngay cả đồng tiền chung châu Âu là euro cũng không có tham vọng và cũng không muốn soán ngôi đô la. Ở thời điểm hiện tại, đô la đang tăng giá so với yen của Nhật, euro của châu Âu. Đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy thế giới không dễ thoát ly khỏi quỹ đạo của đô la. Điểm đáng ngại ở đây là khi đô la tăng giá, nợ nước ngoại của các nền kinh tế đang trỗi dậy cũng tăng theo. Gánh nặng nợ nần càng lúc càng nặng. Ở thập niên 1970, một vị bộ trưởng tài chính Mỹ đã nói với đồng nhiệm Pháp ‘đô la là đơn vị tiền tệ của chúng tôi, nhưng là một vấn đề của các bạn’ Câu nói đó vẫn còn tính thời sự. Đây là cơ hội để đồng tiền Trung Quốc gặm nhấm thêm thị phần, nhưng vấn đề chỉ khoanh vùng đối với Nga mà thôi. Nhìn rộng hơn một chút về thái độ của Trung Quốc trên vấn đề Ukraina : Trung Quốc tránh lên án Matxcơva xâm chiếm Ukraina và đã không về hùa với phương Tây trừng phạt Kremlin. Ai cũng biết Trung Quốc đang là điểm tựa kinh tế của Nga trong giai đoạn này. Theo tôi, thái độ đó bất lợi cho đà quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, bởi giới đầu tư sợ rằng Âu, Mỹ cũng có thể trừng phạt các ngân hàng hay doanh nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng cân nhắc kỹ lưỡng những « được », « thua » và đang kỳ vọng nhiều về các dự án hợp tác khai thác tài nguyên của Nga trong vùng Siberi. Một khi kinh tế Nga suy yếu và cần đầu tư nước ngoài, thì Trung Quốc sẽ « một mình một chợ », vì các hãng lớn của Âu Mỹ đã bỏ đi hết cả. Là một quốc gia khát nguyên liệu như Trung Quốc, cắm rễ vào Siberi và cùng khai thác tài nguyên với Matxcơva là tham vọng Bắc Kinh đang ấp ủ ». Ngay cả trong trường họp một số quốc gia muốn giảm mức độ lệ thuộc vào đô la Mỹ thì các đơn vị tiền tệ quốc tế được ưa chuộng nhất là euro, yen, đồng bản Anh, franc của Thụy Sĩ và đương nhiên là mức độ tin cậy rất cao vào vàng. Không thể phủ nhận trọng lượng kinh tế, thương mại, và tài chính của Trung Quốc, nhưng cũng phải nhìn nhận rằng nhân dân tệ còn là một đồng tiền « với nhiều khác biệt » : nhân dân tệ không « hoạt động tự do và tỷ giá hối đoái của đơn vị tiền tệ này nằm ngoài tầm kiểm soát của luật cung cầu trên thị trường » . Vậy thì ai dám đánh cuộc vào nhân dân tệ để thoát ly khỏi đô la ? Ai dám đánh cuộc rằng, khác với Washington, Bắc Kinh sẽ không sử dụng đồng tiền của Trung Quốc như một loại vũ khí trừng phạt những đối thủ chính trị, quân sự, kinh tế của Đảng Cộng Sản nước này ?

9m
May 03
Bị trừng phạt, kinh tế Nga bên bờ vực thẳm ?

« Trừng phạt Nga gây bất ổn cho chính bản thân kinh tế của các nước phương Tây ». Tổng thống Putin khẳng định như trên hôm 18/04/2022 sau hai tháng dân Nga hứng chịu nhiều đợt trừng phạt liên tiếp Âu-Mỹ để lên án Matxcơva xâm chiếm Ukraina. Chưa có dấu hiệu kinh tế Nga sắp bị sụp đổ và cho dù kịch bản đó có xảy ra, Kremlin dường như cũng sẽ chẳng nao núng. Sau hai tháng Matxcơva đưa quân sang Ukraina, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF trong cuộc họp định kỳ vào mùa xuân thẩm định GDP của Nga giảm 8,5 % trong năm nay. Cựu bộ trưởng Tài Chính của Vladimir Putin là ông Alexei Kudrin (2000-2011) dự báo kinh tế Nga thụt lùi khoảng 10 % do tác động chiến tranh và các biện pháp trừng phạt. Hàng trăm ngàn người lao động Nga đã bị mất việc hay chí ít là bị ảnh hưởng do các công ty nước ngoài ồ ạt thông báo « ngừng hoạt động trên thị trường Nga ». Lạm phát trong tháng 3/2022 tăng 17 %. Ngân hàng Trung Ương Nga nêu lên con số « tối thiểu là 18 % » cho cả năm. Đáng quan ngại hơn là trung bình mỗi hộ gia đình Nga phải dành ra đến 40 % thu nhập để mua lương thực thực phẩm. Tỷ lệ này cao gấp đôi so với hai tháng trước. Theo lời thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Nga, Elvira Nabioullina, một trong những nhân vật hiếm hoi được tổng thống Putin lắng nghe, nước Nga « cần ít nhất hai năm » mới hy vọng đẩy lạm phát xuống còn 4 % thay vì 18-20 % như hiện tại. Cũng chưa bao giờ hệ thống giao dịch ngân hàng trên thế giới SWIFT nhanh chóng loại một thành viên có trọng lượng như Nga ra khỏi mạng thông tin dành riêng cho các giao dịch tài chính. Hệ quả kèm theo là các doanh nghiệp Nga mất khả năng thanh toán với các nhà cung cấp nước ngoài.  Ngày 04/04/2022 Matxcơva mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài đáo hạn cho dù Liên bang Nga giải thích vẫn có thể trả nợ bằng đồng rúp và thậm chí là bằng đô la nếu như phương Tây không phong tỏa khoảng một nửa số tiền 640 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Trung Ương Nga ở nước ngoài. Gã khổng lồ với đôi chân đất sét Kim ngạch xuất khẩu của Nga giảm sụt nghiêm trọng. Giao thương với Âu Mỹ bị thu hẹp tối đa, chỉ còn khoanh vùng trong một vài lĩnh vực mà chủ yếu là năng lượng. Liên Hiệp Châu Âu đã ban hành 5 đợt trừng phạt. Rất có thể đợt trừng phạt thứ 6 của Bruxelles mở rộng đến lĩnh vực dầu hỏa và khí đốt, vốn được coi là nguồn tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của Kremlin.   Hai tháng sau khi tổng thống Vladimir Putin khởi động cuộc chiến Ukraina để lộ rõ những lỗ hổng của mô hình kinh tế Nga như chuyên gia về kinh tế vĩ mô và về hoạt động của thị trường tài chính, Michel Santi giải thích : Michel Santi : « Về cơ cấu, Nga rất dễ bị tổn thương bởi vì kinh tế cả nước dựa vào xuất khẩu nguyên liệu mà chủ yếu và dầu hỏa và khí đốt. Matxcơva đã nhiều lần có gắng thay đổi thực tế đó, chẳng hạn như hồi đầu những năm 2000 từng tìm cách đa dạng hóa cỗ máy kinh tế. Nhưng đã không mấy thành công và đã phải quay lại với mô hình cũ, tức là vẫn chỉ khai thác tối đa ngành xuất khẩu các khoáng sản, nguyên liệu, dầu khí, nông phẩm. Nhược điểm thứ nhì là Nga không có một tầng lớp trung lưu với thu nhập trung bình và qua đó có sức mua khả dĩ. Khá nguy hiểm khi chỉ trông cậy vào xuất khẩu – kể cả trong trường hợp của Đức chẳng hạn và lại càng nguy hiểm hơn nữa nếu như ngành xuất khẩu đó chỉ tập trung vào một số nguyên liệu ». Bốn ngày trước khi tổng thống Vladimir Putin mạnh dạn tuyên bố phương Tây tự bắn vào chân mình khi muốn bóp ngạt kinh tế Nga thì thủ tướng Mikhail Michoustin trước Hạ Viện Douma nhìn nhận lệnh cấm vận đẩy kinh tế vào giai đoạn khó khăn và đây là mức « khó khăn nhất từ ba thập niên qua ». Cũng chưa bao giờ Nga lại phải hứng chịu những đòn trừng phạt khắt khe đến như hiện tại, « kể ca trong những năm tháng đen tối nhất của thời kỳ Chiến Tranh Lạnh ».  Con tàu bị ngập nước nhưng chưa chìm Dù vậy giới quan sát cũng ngạc nhiên cho rằng Nga có vẻ như vẫn cầm cự được trước các đòn trừng phạt « bom tấn » của phương Tây. Trên đài RFI Michel Santi giải thích Matxcơva phần nào có những tính toán từ trước : Michel Santi  : « Nga đã tích lũy được một khoản dự trữ khá lớn từ 2014. Chủ yếu đây là quyết tâm của một số lãnh đạo ở thượng tầng cơ quan quyền lực và để có được một khoản dự trữ 640 tỷ đô la thì người dân Nga đã phải hy sinh nhiều có nghĩa là trong suốt những năm tháng mà giá dầu hỏa, nguyên và nhiên liệu tăng cao dân chúng không được hưởng gì hết. Đây là một chiến thuật được Vladimir Putin và những người thân cận với ông ta đã hoạch định ». Trong hai tháng qua, Matxcơva đã tìm nhiều giải phát để thoát khỏi vòng kềm tỏa của các biện pháp cấm vận. Điều hiển nhiên nhất là Âu Mỹ dù có phạt nặng nước Nga nhưng cho đến ngày 26/04/2022 vẫn tránh cấm vận năng lượng của Nga, đặc biệt là châu Âu mới chỉ « nêu lên khả năng » này. Dù hô hào trừng phạt mạnh tay nhưng các thống kê hải quan cho thấy khối lượng dầu hỏa, khí đốt mua vào của Nga từ đầu 2022 đến nay đang ở mức « cao chưa từng thấy ». Nguy cơ Nhà nước Nga vỡ nợ Đầu tháng 4/2022 Hoa Kỳ siết chặt thêm một chút nữa các biện pháp trừng phạt bằng cách ngưng nhận đô la mà Ngân Hàng Trung Ương Nga ủy thác tại các ngân hàng Mỹ. Quyết định được đưa ra đúng vào lúc Matxcơva phải thanh toán gần 650 triêu đô la nợ đáo hạn. Với quy định mới của bên bộ Tài Chính Mỹ, về mặt nguyên tắc đến ngày 04/05/2022 Nga phải thanh toán bằng đô la khoản nợ nói trên. Đáp trả Washington, Matxcơva tuyên bố vẫn đủ sức trả nợ đáo hạn nhưng sẽ thanh toán cho các chủ nợ bằng đồng rúp. Theo cơ quan thẩm định tài chính Hoa Kỳ, Moody’s, trả nợ bằng đồng rúp, Nga đơn phương thay đổi các điều khoản trong hợp đồng khi đi vay tín dụng và như vậy mặc nhiên coi như nhà nước Nga bị đặt trong tình trạng « phá sản ».  Theo chuyên gia kinh tế Pháp Michel Santi, Nga mất khả năng thanh toán là điều hiển nhiên : Michel Santi  : « Tôi nghĩ rằng mất khả năng thanh toán là điều không tránh khỏi. Câu hỏi không còn là Nga có thể bị phá sản hay không mà là khi nào thì Matxcơva phải tuyên bố mất khả năng thanh toán. Tôi dự báo kịch bản đó xảy ra trễ nhất là vào cuối tháng 5/2022, bởi vì kinh tế Nga đang bị phong tỏa về nhiều mặt và bắt đầu bị ngạt thở. Nhưng cũng phải nói thêm rằng, quan sát kỹ tình hình, tôi có cảm tưởng như chính chế độ đang hủy hoại nền kinh tế Nga một cách có phương pháp ! Thực sự tôi không thấy Nga có cách nào để thoát khoải tình trạng mất khả năng thanh toán. Tuy vậy ngay cả trong trường hợp vẫn có thể trả nợ đáo hạn, thì tôi nghĩ rằng giới lãnh đạo cao cấp nhất tại Matxcơva cũng sẽ quyết định không thanh toán cho các chủ nợ nước ngoài. Nga không có lý do gì trả nợ cho các nước phương Tây khi mà số này đang ban hành những biện pháp nghiêm ngặt trừng phạt Matxcơva và nếu có ngoại tệ thì Nga phải giữ số tiền đó để làm việc khác.  Chắc chắn là tôi sẽ không dùng khoản ngoại tệ đó để thanh toán cho các chủ nợ của phương Tây ». Mất khả năng đi vay và uy tín đổ gẫy Theo số liệu của bộ Tài Chính nợ nước ngoài hiện lên tới 52 tỷ đô la, tương đương với 20 % tổng nợ của Nhà nước Nga. Trong trường hợp mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài, Liên bang Nga mặc nhiên mất luôn khả năng đi vay trên các thị trường tài chính trong nhiều năm. Trả lời ban Anh ngữ đài RFI, Serguei Guriev, nguyên là cố vấn kinh tế của chính phủ Nga, từ 2013 ông sang sống hẳn ở nước ngoài và hiện đang giảng dậy tài trường Khoa Học Chính Trị Paris, nhấn mạnh « tài chính là một mặt trận quan trọng » để gây sức ép với Nga và ông tiếc là phương Tây chậm đưa ra quyết định, như thể cố tình muốn giúp Matxcơva « câu giờ » : Serguei Guriev  : « Hiện tại đây cũng là một mặt trận quan trọng hiểu theo nghĩa một phần dự trữ của Ngân Hàng Trung Ương bị phong tỏa, Nga mất đi một khoản dự trữ bằng đô la và điều đó giải thích phần nào đồng rúp mất giá đến gần 50 % so với trước đây. Dù vậy Matxcơva vẫn thu vào đô la khi mà quốc tế mua dầu hỏa của Nga và do chưa có lệnh trừng phạt dầu khí Nga. Nga đang thu vào rất nhiều đô la, mức thu vào cao chưa từng thấy và nhờ vậy mà Matxcơva nhanh chóng lấp được phần nào thiếu hụt do các biện pháp trừng phạt gây nên. Nói cách khác Nga vẫn có đô la và cả đồng rúp để gài trợ chiến tranh, có phương tiện để tài trợ cho các chiến dịch tuyên truyền, do vậy cấm vận dầu khí sẽ làm thay đổi tình thế. Hiện thời Mỹ đã cấm nhập khẩu dầu hỏa của Nga. Nhiều tập đoàn tư nhân cũng từ chối chuyên chở hay mua vào dầu hỏa của Nga. Nhưng châu Âu thì chưa. Nếu chờ đợi thêm vài tuần lễ nữa, thì ngân sách Nga, cũng như đồng rúp sẽ được ổn định ». Nhưng điều đáng lo ngại hơn nữa theo đánh giá của Michel Santi là uy tín của nước Nga trong mắt các nhà đầu tư quốc tế hoàn toàn bị hủy hoại : Michel Santi : « Một điểm mới khác là ông Putin và những người thân cận đã quốc hữu hóa các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Nga, nghiễm nhiên chiếm đoạt tài sản của các hãng tư nhân nước ngoài. Thí dụ như là đã chiếm Nga đã giữ lại và chiếm đoạt máy đang bị chôn chân ở các phi trường của Nga. Sự tin tưởng giữa Nga với các doanh nhân quốc tế đã đổ vỡ ». Dù vậy cựu cố vấn kinh tế cho chính phủ Nga không hoàn toàn loại bỏ khả năng, một trong những ngõ thoát hiểm của chế độ Vladimir Putin có thể là Trung Quốc cho dù Bắc Kinh không có lợi ích gì khi bao che cho Matxcơva. Serguei Guriev  : « Nếu Tập Cận Bình muốn cứu nước Nga, ông ta có phương tiện đề làm điều đó. Trung Quốc có thể giúp Nga ổn định kinh tế. Thí dụ như trong khi chờ đợi thị trường dầu khí lắng dịu trở lại Trung Quốc có thể thanh toán trước một ít tiền cho các nhà cung cấp Nga, qua đó bơm thêm sinh khí cho kinh tế nước này. Nhưng tôi không nghĩ rằng kịch bản đó sẽ xảy ra. Trước mắt chúng ta thấy một số các ngân hàng lớn nhát của Trung Quốc tôn trọng lệnh cấm vận của Mỹ và nhiều tập đoàn tài chính đa quốc gia đã ngừng hoạt động tại Nga (…). Về phía giới lãnh đạo Bắc Kinh rõ ràng là đang có nhiều tranh cãi (…) Trung Quốc không có lợi gì khi châu Âu bị suy yếu vì chiến tranh Ukraina bởi đây là một thị trường rất quan trọng đối với xuất khẩu và đầu tư của Trung Quốc. Cuộc chiến này đang tàn phá kinh tế của cả Ukraina lẫn của Nga và đang mang lại những hậu quả nghiêm trọng đối với châu Âu. Tất cả những điều đó đi ngược lại với lợi ích của Trung Quốc ». Loại trừ kịch bản kinh tế Nga sụp đổ Trả lời đài truyền hình Pháp TV5monde, Alexandre Melnik chuyên gia về địa chính trị và cũng là một nhà ngoại giao từng làm việc tại Matxcơva lưu ý Vladimir Putin chỉ quan tâm đến cuộc chiến về mặt quân sự mà thôi. Các đòn trừng phạt của phương Tây khiến kinh tế Nga lao đao, khiến người dân Nga khổ sở không không vì thế mà Vladimir Putin chùn bước. Kinh tê Nga gặp khó khăn nhưng sẽ không bị sụp đổ vì Matxcơva vẫn được một số quốc gia có trọng lượng trên thế giới hậu thuẫn, đứng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ. Sau cùng những lập luận cho rằng đời sống đắt đỏ dẫn tới đói kém có thể là mầm mống lật đổ chế độ Putin, giáo sư kinh tế Pierre Yves Geoffard Viện Kinh Tế Paris trên tờ báo Libération thiên tả hôm 07/03/2022 đã nhắc nhở công luận rằng : kinh nghiệm của Cuba hay Bắc Triều Tiên cho thấy dân có thể đói nhưng các chế độ độc tài chuyên chế ở La Habana hay Bình Nhưỡng vẫn tồn tại.

9m
Apr 26
Covid và chiến tranh Ukraina thách thức kinh tế Trung Quốc

Lo ngại về mối quan hệ mật thiết giữa Bắc Kinh và Matxcơva khiến trong tháng 3/2022 các quỹ đầu tư quốc tế rút 21 tỷ đô la vốn khỏi Hoa lục. Theo thống kê Trung Quốc, GDP trong ba tháng đầu năm tăng « ngoài mong đợi ». Còn ngân hàng Morgan Stanley nói đến một tỷ lệ tăng trưởng gần 0% do tác động kép chiến tranh Ukraina và Covid.   Chiến tranh Ukraina tràn vào Trung Quốc   Ngày 18/04/2022,  Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thông báo tăng trưởng trong quý 1/2022 đạt 4,8 %, cao hơn so với các dự phóng của Nhà nước và các thăm dò. Cùng ngày, hãng tin Mỹ Bloomberg đưa ra hai con số : riêng trong tháng 3/2022 các quỹ đầu tư quốc tế « bán lại » 7 tỷ đô la cổ phần đang nắm giữ của các tập đoàn Trung Quốc và chuyển nhượng lại 14 tỷ đô la nợ công của Trung Quốc. Một quỹ đầu tư lớn của Na Uy rút lui khỏi ngành may mặc của công xưởng thế giới này. Một quỹ đầu tư tư nhân khác của Hoa Kỳ ghi nhận số dự án mới vào Trung Quốc « rơi xuống thấp nhất kể từ 2018 tới nay ». Đồng giám đốc cơ quan tư vấn SPI Asset Management của Thụy Sĩ, Stephen Innes giải thích : « Các thị trường lo ngại về mối quan hệ giữa Trung Quốc với Nga, đa số đang bán bớt công trái phiếu của Trung Quốc ». Những tuyên bố quan hệ giữa Trung Quốc và Nga « vững như bàn thạch », những dự án hợp tác kinh tế song phương tiếp tục phát triển vào lúc thương mại Nga bị phong tỏa tứ bề không là những dấu hiệu tốt trấn an thị trường. Từ cuối tháng 2/2022 các thị trường chứng khoán Hồng Kông và tại Haa Lục trong thế « bất an » nhất là khi chính phủ thông báo mục tiêu tăng trưởng 5,5 % cho cả năm vì đây là mức thấp nhất từ thập niên 1980. Không chỉ có các tập đoàn đầu tư quốc tế, mà ngay cả các doanh nghiệp Trung Quốc cũng có ít nhất hai lý do để lo ngại chiến tranh Ukraina kéo dài. Trả lời RFI tiếng Việt Antoine Bondaz, chuyên gia về khu vực đông bắc Á Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược Pháp phân tích :  « Về mặt kinh tế, Trung Quốc có thể phần nào giúp giảm thiểu tác động các biện pháp trừng phạt mà Tây phương áp đặt nhưng không giúp Nga đảo ngược được tình huống. Hiện tại nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đang thận trọng vì sợ bị phạt lây, nhất là từ phía Mỹ. Công luận thường cho rằng một nước Nga bị suy yếu sẽ là cơ hội tốt cho Trung Quốc. Có lẽ chúng ta  cần thận trọng hơn với suy nghĩ đó, bởi vì một nước Nga suy yếu về kinh tế một cách lâu dài, không có lợi ích gì cho Trung Quốc cả. Bắc Kinh cần một đối tác vững chắc để làm đối trọng với phương Tây, để đặt ra những luật chơi mới cả về kinh tế lẫn chính trị so với những gì đang được phương Tây đang áp dụng. Từ thập niên 1990 Matxcơva đã xích lại gần với Trung Quốc và quan hệ đó càng khắng khít hơn trong những năm gần đây đặc biệt là kể từ sau 2014 khi quốc tế bắt đầu trừng phạt Nga chiếm bán đảo Crimée của Ukraina».    Trung Quốc đau đầu vì Nga, Ukraina và châu Âu Trung Quốc là một nguồn xuất khẩu của thế giới mà châu Âu là một trong những thị trường quan trọng nhất của các doanh nghiệp nước này. Chiến sự Ukraina kéo dài, tăng trưởng của châu Âu đổ dốc bất lợi cho các nhà máy sản xuất của Trung Quốc. Bên cạnh đó, « công xưởng của thế giới » cũng là một khách hàng lệ thuộc vào dầu khí, vào khoáng sản của Nga, vào nông phẩm của cả Nga lẫn Ukraina. Chiến tranh đẩy giá cả của tất cả những mặt hàng đó lên cao bất lợi cho cỗ máy sản xuất của Trung Quốc và tạo ra lạm phát gây, thêm khó khăn cho đời sống của nước đông dân nhất địa cầu.   Mặc dù Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thông báo « thành tích » tăng trưởng trong quý 1/2022 cao hơn mong đợi, nhưng hiếm khi nào cơ quan này nhìn nhận rằng « những khó khăn và thử thách đang ở phía trước ». Bắc Kinh dự báo tổng sản phẩm nội địa cho cả năm 2022 tăng 5,5 % nhưng ngân hàng Mỹ Morgan Stanley bi quan hơn nhiều với nhận định « ngay cả mục tiêu khiêm tốn đó cũng khó mà đạt được » trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng lên trở lại và hiện tại 18 trong số 31 tỉnh thành của Trung Quốc đang bị phong tỏa với ở các cấp độ khác nhau với các biện pháp nghiêm ngặt nhất. Virus corona làm tiêu tan hy vọng kinh tế Trung Quốc khởi sắc trở lại ? Các hoạt động kinh tế, tại hai thành phố lớn là Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông và Thượng Hải bị đóng băng từ nhiều tuần qua. Ngay sau khi có lệnh phong tỏa Thâm Quyến, hôm 17/03/2022 chỉ số chứng khoán ở Thượng Hải và Hồng Kông sụt giá mạnh. Thâm Quyến là thành phố lớn thứ ba trên toàn quốc và được mệnh danh là « Thung lũng Silicon » của Trung Quốc, nơi các tập đoàn như công nghệ cao như Hoa Vi, Tencent, hay hãng cung cấp ổ cứng máy điện toán của Trung Quốc Netac đặt trụ sở. Theo thẩm định của Bocom International, một công ty tư vấn tài chính trụ sở tại Hồng Kông, « phong tỏa Thâm Quyến, một trung tâm công nghiệp và công nghệ của Trung Quốc, một hải cảng lớn, là một quyết định đau đớn ». Có ít nhất 6 tập đoàn gia công cho hãng điện thoại và máy tính Apple của Mỹ đóng đô tại Thâm Quyến đều đã phải đóng cửa các nhà máy những tuần qua. Virus corona không dừng lại ở Thâm Quyến mà đã lan rộng ra gần hết các tỉnh thành trên toàn quốc. Hãng tin Pháp AFP đưa ra con số gần một phần tư dân số Trung Quốc bị giới hạn đi lại, từ biên giới phía bắc, Cát Lâm đến Hồng Kông và bất ngờ nhất là Thượng Hải. Thành phố với 25 triệu dân này đang « trả giá đắt » sau ba tuần lễ gần như bị cách biệt với thế giới bên ngoài. Jean François Huchet, giám đốc Viện Ngôn Ngữ Đông Phương INALCO ghi nhận :  « Hoạt động kinh tế tại Thượng Hải giảm mạnh chủ yếu do các biện pháp phong tỏa rất ngặt nghèo nhắm vào tất cả các lĩnh vực, mà đứng đầu là ngành vận tải đường biển, đường bộ. Lá phổi kinh tế của Trung Quốc bị tắc nghẽn(…) Trước đây đã có dấu hiệu kinh tế Trung Quốc chựng lại. Tiêu thụ nội địa, chỉ số đầu tư vào cơ sở hạ tầng bị đình trệ. Ngành địa ốc lao đao như đã biết. Nhưng từ những tuần lễ vừa qua rõ ràng là các biện pháp phong tỏa đè nặng lên các sinh hoạt hàng ngày. Không chỉ có Thượng Hải bị phong tỏa, mà cả những thành phố lớn như Thâm Quyến với trên 15 triệu dân, Tây An-thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, Tô Châu … Rất nhiều nơi đang bị phong tỏa là những thành phố công nghiệp lớn của Trung Quốc. Hiện tại, chính các biện pháp ngăn dịch quá khắt khe đang làm tê liệt nền công nghiệp xe hơi Trung Quốc, gây khó khăn cho công nghiệp dệt may. Các hoạt động vận tải đường biển cũng bị bế tắc, những cảng lớn ở Thượng Hải, Hồng Kông như những thành phố chết. Đương nhiên là ảnh hưởng đến kinh tế Trung Quốc ».  Trung Quốc nhiễm Covid-19 thế giới hoảng loạn Giáo sư Mary Françoise Renard đại học Clermond Ferrand phân tích thêm về những hậu quả đợt dịch lần này đối với tăng trưởng của Trung Quốc và thậm chí là đe dọa cả đà phục hồi của kinh tế toàn cầu : « Có những hậu quả về kinh tế rất lớn. Trong ngắn hạn, những lĩnh vực như dịch, vụ, nhà hàng, buôn bán, giải trí, giao thông, tài xế tắc xi bị ảnh hưởng. Kinh tế Trung Quốc bị thiệt hại nhiều vì các biện pháp phòng dịch khắt khe đó. Kế tới, khu vực sản xuất hoạt động chậm hẳn lại, tiêu thụ của doanh nghiệp và các hộ gia đình sụt giảm. Nhìn xa hơn một chút, do các nhà máy Trung Quốc bị chựng lại, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng của toàn cầu và qua đó là cả hệ thống mậu dịch quốc tế. Trung Quốc nhập khẩu nhiều sản phẩm để rồi chế biến thêm và xuất khẩu trở lại. Riêng trong tháng 3/2022 kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc đã bất ngờ sụt giảm và cần biết rằng Trung Quốc là nguồn cung cấp đến 1/3 những thành phẩm cho thế giới để rồi những mặt hàng đó được sử dụng để làm ra những mặt hàng khác nữa, thí dụ như Trung Quốc cung cấp các phụ tùng xe hơi để phục vụ cho các nhà máy của các hãng xe Nhật hay Đức … ở những châu lục khác. Hiện tại do chuỗi cung ứng bị tắc nghẽn tại Hoa lục cho nên nhiều nhà máy đã phải ngừng hoạt động. Điều này có thể sẽ đè nặng lên tăng trưởng của toàn cầu ».   Từng bước nới lỏng phong tỏa Ngày 19/04/2022 chính quyền Thượng Hải vừa thông báo cho phép 600 nhà máy hoạt động trở lại và đây là bước kế tiếp sau tuyên bố của phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc. Hôm 18/04/2022 chủ trì một cuộc họp ông đã nhấn mạnh rằng « chuỗi sản xuất vẫn phải được bảo đảm ngay cả trong thời điểm đang có đại dịch » và Bắc Kinh thông báo sẽ lập ra một « danh sách trắng » với những doanh nghiệp được coi là ưu tiên trong ngành sản xuất và xuất khẩu.   Tân Hoa Xã giải thích, đó là những hãng xưởng « cần được bảo đảm vẫn hoạt động » trong khi chờ đợi bên y tế đẩy mạnh chiến dịch tiêm chủng, xét nghiệm để bảo đảm khống chế virus corona. Tập đoàn xe hơi điện của Mỹ Tesla vừa thông báo khởi động lại nhà máy Thượng Hải nhưng theo hãng tin Bloomberg trong ngày đầu tiên hoạt động, chi nhánh của Tesla tại Hoa lục đã gặp nhiều khó khăn thí dụ như công nhân vẫn bị kẹt không thể đến được nhà máy. Thêm một khó khăn nữa là phụ tùng và vật liệu cần chuyển đến các nhà máy tại Thượng Hải và các khu vực lân cận vẫn bị ách tắc tại hải cảng, hay các nhà kho. Thượng Hải vẫn là vùng « bất khả xâm phạm ». Chính quyền chỉ cấp giấy phép một cách nhỏ giọt cho các tài xế xe tải đến giao hàng. Phần lớn các nhà máy thiếu nhiên liệu và phụ tùng, thậm chí là cả công nhân để có thể hoạt động bình thường như thông tín viên báo Le Monde ghi nhận tại chỗ.  Giáo sư Jean François Huchet ghi nhận đây là hệ quả trực tiếp từ chủ trương bài trừ Covid triệt để của Bắc Kinh : « Hiện tại giới lãnh đạo Bắc Kinh tránh nhìn thẳng vào sự thật. Hơn thế nữa tỷ lệ người được chích ngừa ở Trung Quốc rất thấp và vac-xin Trung Quốc lại không hiệu quả. Bắc Kinh dứt khoát từ chối dùng thuốc của phương Tây, bởi vì như vậy là công khai nhìn nhận sự thua kém của chính mình. Chính thái độ đó của giới lãnh đạo, khiến Trung Quốc khó kiểm soát được đà lây lan của biến thể Omicron và vì vậy Bắc Kinh bằng mọi giá phải áp dụng chính sách zero Covid. Đương nhiên là Trung Quốc đang trả giá đắt về mặt kinh tế như trường hợp ở Thượng Hải, và bên cạnh đó còn nhiều tác động khác nữa về mặt xã hội, tâm lý … Vấn đề đặt ra là làm thế nào thoát khỏi bế tắc mà không bị mất thể diện ».  Theo giới quan sát tình hình ở Thượng Hải hiện nay tệ hơn cả so với quý 1/2020 khi Trung Quốc mới bắt đầu công nhận dịch Covid-19, bởi cách nay 2 năm Thượng Hải ít bị lây nhiễm hơn và không bị phong tỏa nghiêm ngặt như hiện giờ.   Hãng tin Anh Reuters thực hiện một cuộc thăm dò cho thấy GDP của Trung Quốc trong ba tháng đầu năm tăng 0,6 % : con số này thấp hơn rất nhiều so với thành tích 4,8 % mà Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc vừa công bố.

9m
Apr 19
Pháp: Đẩy lùi thất nghiệp, một thành tích của tổng thống Macron

« Thành tích kinh tế của Macron vượt trội hơn hai người tiền nhiệm » là chìa khóa giúp ông giữ được ghế tổng thống thêm một nhiệm kỳ thứ hai ? Từ năm 2017, chính phủ đã bơm thêm mãi lực cho dân, đẩy lùi thất nghiệp, cải tổ thị trường lao động, tô điểm hình ảnh của nước Pháp với doanh nhân nước ngoài. Nhưng nhiều kế hoạch cải tổ vẫn bế tắc, mục đích tự chủ về năng lượng còn xa vời. Một phần công luận bất mãn vì những bất bình đẳng trong xã hội. Trong chưa đầy hai tuần nữa, lãnh đạo cực hữu Marine Le Pen hay tổng thống mãn nhiệm Emmanuel Macron trở thành người nắm giữ chìa khóa điện Elysée trong 5 năm sắp tới ? Nữ ứng cử viên Le Pen của đảng Tập Hợp Dân Tộc (RN) hứa hẹn một mô hình xã hội công bằng, hứa tăng sức mua cho người dân, đặc biệt là cho những thành phần có thu nhập thấp, cho người nghèo bị chính quyền mãn nhiệm và những thời tổng thống trước đã « bỏ rơi ». Cơm áo gạo tiền Nhưng có thực là dân Pháp đã nghèo đi trong 5 năm vừa qua hay không ? Thống kê của Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh tế Pháp OFCE hôm 17/03/2022 công bố nghiên cứu cho thấy : Emmanuel Macron thành công hơn hai người tiền nhiệm là tổng thống François Hollande (nhiệm kỳ 2012-2017) và Nicolas Sarkozy (2107-2012), cả hai đều chỉ điều hành đất nước trong một nhiệm kỳ và ông Sarkozy bị cử tri bất tín nhiệm khi ra tái tranh cử. Hai chỉ số là sức mua của các hộ gia đình và chỉ số thất nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên dưới 25 tuổi cho phép khẳng định điều này.Tháng 5/2017, Emmanuel Macron lên cầm quyền, 9,5 % người Pháp trong độ tuổi lao động không có việc làm. Theo Viện Thống Kê Quốc Gia INSEE, cuối năm 2021, tỷ lệ đó rơi xuống còn 7,4 %. Đây là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong 15 năm vừa qua. Ngược thời gian trở về thời điểm 1981, Pháp mới có tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi từ 16 đến 25 thấp như hiện nay. Những thành tựu đó trên thị trường lao động có được là nhờ chính phủ đã cải tổ luật lao động ngay từ 2017, cải tổ hệ thống trợ cấp thất nghiệp, đồng thời giảm thuế cho doanh nghiệp. Thêm vào đó là hàng loạt chính sách khuyến khích thanh thiếu niên đi học nghề, để có được một chỗ đứng trên thị trường lao động. Những con số thống kê đó khiến ngay cả các đối thủ chính trị, những người không cùng chí hướng với chính sách có khuynh hướng tự do của ông Macron, cũng không thể phủ nhận. Trên đài phát thanh France Inter, cựu đô trưởng Paris, người của đảng Xã Hội cánh tả, Bertrand Delanoë cho biết : « Trong ba năm cuối nhiệm kỳ, Emmanuel Macron chứng tỏ ông là một vị tổng thống có tầm cỡ. Ông bảo vệ rất tốt người dân Pháp vào lúc mà chúng ta đang trải qua những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, từ phong trào nổi dậy Gilets Jaunes của những người Áo Vàng đến khủng hoảng y tế do dịch Covid-19 gây nên. Ở điểm này, chẳng những tổng thống Macron đã đề ra những biện pháp rất hiệu quả để cứu nguy kinh tế mà ông còn có những biện pháp xã hội để giúp đỡ người dân vượt qua cơn hoạn nạn. Là người của cánh tả như tôi, điều quan trọng nhất là việc đẩy lui thất nghiệp và thành quả của Emmanuel Macron trong lĩnh vực này quá rõ ràng. Đó là một điểm then chốt về mặt công bằng xã hội ». Chưa làm được tất cả nhưng Macron là người đã đem lại một số tiến bộ cho xã hội, cựu đô trưởng Paris phân tích tiếp : « Emmanuel Macron trong giai đoạn chót của nhiệm kỳ tổng thống 5 năm đã đem lại những tiến bộ thực sự về mặt xã hội. Tôi muốn nói đến những biện pháp như là Revenu d’engagement des jeunes, bảo đảm thu nhập cho giới trẻ từ 16 đến 25 tuổi, nhưng đổi lại thì những người được trợ giúp đó phải năng động, tức là phải đi học thêm, phải được đào tạo để hội nhập vào thị trường lao động. Mục tiêu ở đây là đưa những thành phần đó ra khỏi giai đoạn khó khăn. Đó là một tiến bộ quan trọng để tạo cơ hội cho mọi người có một chỗ đứng trong xã hội này. Đương nhiên, chính sách về kinh tế, về mặt xã hội của tổng thống Macron không hoàn hảo và còn rất nhiều việc sẽ phải làm tiếp. Tôi hy vọng rằng, tái đắc cử thì trong nhiệm kỳ thứ hai Emmanuel Macron sẽ quan tâm nhiều hơn đến vế xã hội ». Từ năm 2017 tới nay, chính quyền Macron liên tiếp bị thách thức. Đầu tiên là đợt đình công kéo dài của nhân viên ngành xe lửa Pháp làm tê liệt một phần các hoạt động kinh tế, gây thiệt hại hàng tỷ euro cho tập đoàn xe lửa quốc gia SNCF để rồi chính phủ phải bù đắp vào lỗ trống tài chính đó. Tiếp theo là phong trào phản kháng Gilets Jaunes của những người phẫn nộ xuống đường vào mỗi ngày Thứ Bảy hàng tuần. Bước sang đầu năm 2020, đến lượt virus corona tấn công cả thế giới trên nhiều mặt từ y tế, xã hội đến kinh tế. Covid-19 vẫn chưa lùi vào bóng tối thì đến lượt chiến tranh Ukraina sát biên giới châu Âu , dọa tăng trưởng của cả một châu lục mà Pháp là một trong những nền kinh tế năng động nhất, nặng ký nhất. Đời sống đắt đỏ Giá xăng dầu khí đốt tăng cao, bởi Nga là nguồn cung cấp chính cho toàn khối châu Âu, lương thực thực phẩm càng lúc càng đắt đỏ bởi thế giới bị mất đi hai nguồn cung cấp lớn là Nga và Ukraina. Lạm phát càng là mối lo của từng nhà và là cơ hội tốt để các đối thủ chính trị của Emmanuel Macron khai thác trong cuộc chạy đua tranh cử tổng thống 2022. Nhưng ba tuần trước bầu cử vòng 1, cũng báo cáo OFCE đã cho thấy : « Từ 2017 tới nay, sức mua của dân Pháp đã tăng lên thêm ». Nhà báo Dominique Seux của báo kinh tế Les Echos cho biết : « Thống kê gần đây nhất của Đài Quan Sát Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE, một cơ quan vốn không thân thiện gì lắm với chính phủ, cho thấy 10% thành phần có thu nhập thấp nhất ở Pháp, dưới thời tổng thống Emmanuel Macron, sức mua của họ đã tăng lên hơn 600 euro và riêng trong năm 2021 thì mãi lực của thành phần này không hề bị sụt giảm ». Một lần nữa, nghiên cứu nói trên so sánh thành tích của Emmanuel Macron với hai người tiền nhiệm Hollande và Sarkozy, theo đó trong 5 năm nhiệm kỳ tổng thống cánh tả thuộc đảng Xã Hội François Hollande, trung bình mãi lực của dân Pháp tăng thêm 0,1 % một năm. Dưới thời tổng thống cánh hữu Nicolas Sarkozy, tỷ lệ đó là 0,2 %, nhưng với Emmanuel Macron thì sức mua của dân Pháp tăng thêm được 0,9 % một năm. Nhìn đến lạm phát vào lúc vật giá ở Hoa Kỳ tăng lên thêm 7,5 % trong một năm, của châu Âu là hơn 5 % thì dân Pháp may mắn hơn : trong 12 tháng qua, đời sống có khó khăn hơn, nhưng tỷ lệ lạm phát tại Pháp là 4,4 %, theo thống kê của châu Âu Eurostat. Hai tờ báo The Guardian của Anh và New York Times của Mỹ đánh giá cao chính sách kinh tế của tổng thống Pháp : Thu Guardian có vẻ « ganh tị » vì đời sống ở Pháp ít đắt đỏ hơn. Còn New York Times không ngần ngại đánh giá khắc phục hậu quả kinh tế Covid-19 gây nên, Paris « hiệu quả nhất ». Nước chảy chỗ trũng Dù vậy trong mắt nhà kinh tế hàng đầu của Pháp Thomas Piketty, giám đốc nghiên cứu Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội và giảng dậy tại Học Viện Kinh Tế Paris, vẫn còn nhiều vấn đề mà tổng thống Macron mới chỉ đưa ra những biện pháp nửa vời. Thomas Piketty đơn cử trường hợp của chính sách trợ giá năng lượng : « Tôi cho rằng lạm phát, hiện tượng giá năng lượng tăng cao được đề cập đến một cách muộn màng và không có một chỗ đứng xứng đáng trong các cuộc tranh luận. Vào đầu nhiệm kỳ của tổng thống Macron, cùng với biện pháp đánh thuế carbon, đây từng là chủ đề đẩy một phần dân chúng xuống đường. Nhưng rồi đến cuối nhiệm kỳ, Pháp vẫn trong thế thụ động, bất lực mỗi khi giá năng lượng, xăng dầu tăng cao. Chính phủ chỉ đưa ra các biện pháp vá víu nhưng không giải quyết dứt điểm vấn đề này, tránh để bị lệ thuộc vào những biến động trên thị trường năng lượng quốc tế ». Về câu hỏi cách biệt giàu nghèo tại Pháp có được thu hẹp lại hay không trong 5 năm qua, tổ chức nghiên cứu độc lập IPP của Pháp tháng 11/2021 trả lời là không : Đành rằng sức mua của người dân Pháp nhìn tổng thể thì đã tăng lên thêm so với hồi đầu nhiệm kỳ, nhưng đối với 5 % có thu nhập thấp nhất, chưa đầy 800 euro một tháng thì không. Sức mua của những người này trái lại đã bị giảm mất 0,5 % từ 2017 đến cuối 2021. Trái lại, 1 % những người giàu có nhất thì đã giàu thêm : nghiên cứu của viện IPP đi sâu hơn vào chi tiết : những người có thu nhập trung bình 10.500 euro/tháng thì trông thấy mức sống của họ được nâng cao lên thêm và nhất là thành phần « cực giàu » thì sức mua của họ đã tăng lên thêm đến 4 % trong năm 5 vừa qua ! Jean Hervé Lorenzi, sáng lập viên Le Cercle des Economistes, tập hợp khoảng 30 chuyên gia kinh tế và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này, trên đài phát thanh tư nhân Radio Classique nêu bật một số lĩnh vực tổng thống Macron phải làm để đem lại một làn gió mới cho kinh tế Pháp : « Sẽ còn phải giải quyết vấn đề nhà ở, cần cải thiện thị trường lao động và khả năng cạnh tranh của Pháp cũng như là phải đẩy mạnh hơn nữa tiến trình tái công nghiệp hóa cỗ máy kinh tế của Pháp ». Kế hoạch cải tổ chế độ hưu bổng tại Pháp bị chựng lại vì dịch Covid-19. Những nỗ lực nhằm lấy lại cân bằng trong các quỹ an sinh xã hội bị virus corona làm tiêu tan. Tham vọng thu hẹp thâm thụt ngân sách nhà nước, giảm nhập siêu … hiện tại vẫn còn ngoài tầm tay và gần như không thấy chính phủ nhắc tới nữa. Để thuyết phục cử tri bỏ phiếu cho mình thêm một nhiệm kỳ thứ hai, Emmanuel Macron chỉ có hơn chục ngày để đánh bạt hình ảnh của « một vị tổng thống bảo vệ quyền lợi của phe nhà giàu ». Vẫn còn rất nhiều những chương trình cải tổ từ y tế đến giáo dục hay hệ thống lương hưu … còn dang dở. Trong 5 năm qua, Elysée và hai đời thủ tướng ở điện Matignon tuy không gột xóa được hết những bất cập của nền kinh tế Pháp, không thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo, nhưng chính sách kinh tế và chương trình giúp đỡ xã hội của Emmanuel Macron không đến nỗi tệ. Dù vậy không có gì bảo đảm là những thành tích đã gặt hái được giúp vị tổng thống trẻ tuổi nhất của nước Pháp giữ được thêm một nhiệm kỳ thứ hai. Không chắc rằng những thống kê về thất nghiệp, về lạm phát, về số công việc làm được tạo thêm dưới thời tổng thống Macron có sức thuyết phục hơn những lời đường mật của các phe dân túy.

9m
Apr 12
Nga đòi được hanh toán bằng đồng rúp : đòn « rung cây nhát khỉ » ?

Phản đối chiến tranh của Nga tại Ukraina thì phải mua khí đốt bằng đồng rúp. Đó là tối hậu thư Vladimir Putin gửi tới các nước « không hữu hảo » với Matxcơva. Nhưng « nạn nhân đầu tiên » từ quyết định bắt khách hàng thanh toán 100 % hóa đơn khí đốt bằng rúp, lại chính là các tập đoàn dầu khí Nga, con gà đẻ trứng vàng đem về ngoại tệ cho cỗ máy chiến tranh của Putin, theo phân tích của kinh tế gia Thomas Grjebine, trung tâm nghiên cứu CEPII . Hôm 31/03/2022 phát biểu trên đài truyền hình, tổng thống Nga phô trương sắc lệnh còn chưa ráo mực. Kremlin ra lệnh cho các nhà cung cấp không nhận euro hay đô la từ những khách hàng « bất thiện cảm » kể từ ngày 01/04/2022. Nhân vật quyền lực nhất nước Nga dọa thêm : nếu không được thỏa mãn, Matxcơva toàn quyền « ngưng » các hợp đồng đang hiện hành. Châu Âu run sợ ? Truyền thông quốc tế bình luận nhiều về những tác động kèm theo, mà đầu tiên hết là kịch bản Nga đơn phương « khóa vòi » cung cấp khí đốt cho Liên Âu, về « áp lực » gia tăng nếu như khách hàng lớn nhất của Nga là thị trường châu Âu, phải thanh toán bằng đồng rúp. Cũng đã có nhiều bài phân tích về những dụng ý của Matxcơva qua « tối hậu thư » nói trên. Phần lớn đều đưa ra những nhận định như sau : Dưới tác động các biện pháp trừng phạt của phương Tây, kinh tế Nga bị đẩy vào chân tường. Đồng rúp tuột giá không phanh so với đô la và không còn mấy ai muốn mua vào đơn vị tiền tệ của Nga. Một nửa dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Trung Ương Nga bị đóng băng. Bản thân nước Nga cần euro và đô la để thanh toán hóa đơn cho khách hàng. Do vậy sắc lệnh hôm 31/03/2022 nhằm một công đôi ba việc. Thứ nhất là để dằn mặt châu Âu vốn lệ thuộc đến 40 % vào khí đốt của Nga. Thứ hai là đưa Ngân Hàng Trung Ương Nga trở lại bàn cờ tài chính, tiền tệ quốc tế. Mục tiêu thứ ba nhằm giữ giá cho đồng rúp đang tuột dốc so với đô la. Sau cùng, hệ quả về lâu về dài là một khi quốc tế chấp nhận sử dụng những đơn vị tiền tệ khác (như nhân dân tệ của Trung Quốc hay rúp của Nga…) để thanh toán các khoản giao dịch ngoại thương, đồng đô la Mỹ không còn độc quyền là phương tiện thanh toán của thế giới. Giới trong ngành nói đến tiến trình « phi đô la hóa », giải tỏa áp lực Mỹ lợi dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ -Extraterritorial Principle, để trừng phạt các quốc gia bị Washington đưa vào « danh sách đen » như phân tích của Nicolas Mazzucchi chuyên nghiên cứu về năng lượng tại Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược Pháp.   Cũng không ít nhà quan sát cho rằng sau nhiều tuần lễ khởi động chiến tranh tại Ukraina, Vladimir Putin « Không được toại nguyện trên chiến trường nên liên tục tung đòn kinh tế » để chứng tỏ Nga làm chủ tình hình. Điện Kremlin huy động dầu hỏa, khí đốt và nhiều nguồn tài nguyên khác nữa để « phục vụ mục tiêu chiến tranh ». Thùng rỗng kêu to ? Dù vậy, thuần túy về kinh tế thì tuyên bố của Nga đòi khách hàng mua khí đốt bằng đồng rúp nhằm « phô trương thanh tế » : Vladimir Putin cần chứng minh với công luận Nga ông là người làm chủ « cuộc chơi ». Về đối ngoại, đương nhiên sắc lệnh đòi đổi rúp lấy khí đốt là một « áp lực mới » chủ yếu nhắm vào châu Âu – bởi vì Hoa Kỳ không nhập khẩu khí đốt của Nga, nhưng không chắc Matxcơva đạt được tất cả những mục tiêu mong muốn Trả lời đài RFI tiếng Việt, Thomas Grjebine, Trung Tâm Nghiên Cứu về Triển Vọng Kinh Tế và Thông Tin Quốc Tế của Pháp -CEPII trước hết giải thích cụ thể đòi được thanh toán bằng đồng rúp có làm thay đổi gì hay không trong quan hệ giữa các tập đoàn dầu khí Nga và khách hàng :   Thomas Grjebine : « Đây trước hết là một quyết định mang tính chính trị. Hậu quả về chính trị to lớn hơn nhiều so với những tác động kinh tế. Việc đòi được thanh toán bằng đồng rúp nghĩa là như thế nào ? Thông báo của Vladimir Putin hôm 31 tháng 3 về thực chất, cần 10 ngày để có thể được áp dụng. Cần nhắc lại là trước chiến tranh Ukraina, quốc tế mua năng lượng của Nga và thanh toán bằng đồng euro hay đô la. Nghĩa là họ chuyển cho Gazprom một số tiền bằng hai đơn vị tiền tệ này, rồi tập đoàn dầu khí Nga, chuyển khoản thu nhập đó vào tài khoản tại Ngân Hàng Trung Ương Nga. Một khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina, ông Putin đã đòi các hãng xuất khẩu của Nga hoán đổi đến 80 % khoản dự trữ bằng đô la hay euro họ nhận được sang đơn vị tiền tệ của Nga, là đồng rúp. Thế rồi hôm 31/03 Kremlin đi xa hơn nữa, nâng tỷ lệ từ 80 % này lên thành 100 % nhưng biện pháp đó, hiện nay chỉ giới hạn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu khí đốt. Các nước nhập khẩu phải mua khí của Nga bằng đồng rúp có nghĩa là phải giao dịch với Gazprom qua trung gian tài chính là ngân hàng Gazprobank, giao đô la hay euro cho Gazprobank để ngân hàng này mua vào đồng rúp. Điều đó có nghĩa là tất cả đô la hay euro sẽ được chuyển về Ngân Hàng Trung Ương Nga qua trung gian chi nhánh tài chính của Gazprom. Nói cách khác, thay đổi duy nhất đối với các khách hàng mua vào khí đốt Nga, họ cần đến một trung gian mới là Gazprobank. Thay đổi duy nhất ở đây là về phía Nga : 100 % hóa đơn khí đốt của các tập đoàn năng lượng Nga sẽ được hoán chuyển sang rúp. Như vậy, chừng nào mà Âu, Mỹ còn mua khí đốt của Nga, thì đô la và euro vẫn tiếp tục được rót vào Ngân Hàng Trung Ương Nga ».  Ngày 24/02/2022 tổng thống Putin ra lệnh tấn công Ukraina, bốn ngày sau Kremlin chỉ thị cho các tập đoàn xuất khẩu chuyển 80 % thu nhập sang đơn vị tiền tệ quốc gia, tức đồng rúp. Riêng sắc lệnh hôm 31/03/2022 chỉ liên quan đến ngành xuất khẩu khí đốt sang các nước « bất thân thiện » với Nga. Cho dù Vladimir Putin nhấn mạnh sắc lệnh mới có hiệu lực từ ngày 01/04/2022 trên thực tế, như chuyên gia kinh tế Grjebine vừa nhắc lại, các nhà cung cấp của Nga cần thời hạn 10 ngày để thi hành lệnh của tổng thống. Thêm một điểm quan trọng nữa là một khi có hiệu lực, sắc lệnh mới liên quan đến những hợp đồng mà Gazprom chẳng hạn ký kết với khách hàng, kể từ tháng 4- tháng 5/2022 và đó là những hợp đồng « trong tương lai ». Thomas Grjebine nói rõ hơn : trung bình đó là những hợp đồng ký trước cho giai đoạn ba năm săp tới. Có nghĩa là nếu các bên tuân thủ sắc lệnh ngày 31/03/2022  thì kể từ tháng 4 hay tháng 5/2025 các nước « không thân thiện » với Nga mới bắt đầu phải thanh toán cho các nhà cung cấp khí đốt bằng đồng rúp.  Ai biết được thời cuộc từ nay đến đó đi về đâu ! Điều đó không che khuất một thực tế là Matxcơva tìm cách đưa Ngân Hàng Trung Ương Nga trở lại sân chơi, buộc phương Tây phải giao dịch trở lại dưới một hình thức nào đó với định chế mà chính họ đã đưa vào danh sách trừng phạt. Thomas Grjebine : « Vladimir Putin gia tăng áp lực với châu Âu và chứng minh rằng Matxcơva vẫn có cách để lách lệnh trừng phạt. Như đã nói, đây trước hết là một biểu tượng về mặt chính trị, bởi vì qua đó Kremlin bắt phương Tây vẫn phải giao dịch với Ngân hàng Trung Ương của Nga vào lúc mà một nửa dự trữ ngoại tệ của định chế này bị Âu Mỹ phong tỏa. Mục tiêu bơm giá đồng rúp  Thế còn về lập luận tổng thống Putin qua việc đòi khách hàng của Nga thanh toán bằng rúp nhằm « đẩy tỷ giá đơn vị tiền tệ » quốc gia lên cao so với đô la thì sao ? Chuyên gia kinh tế thuộc trung tâm CEPII của Pháp, Thomas Grjebine cho rằng đây là một màn « nặng phần trình diễn bề ngoài » bởi vì thực chất là ngày nào mà phương Tây còn phải mua vào năng lượng hay nông phẩm, khoáng sản … của Nga, thì vẫn phải dùng đô la hay euro để đổi lấy rúp. Thomas Grjebine : « Tôi không nghĩ là biện pháp này làm thay đổi nhiều tỷ giá của đồng rúp, tức là cho phép đơn vị tiền tệ Nga tăng giá mạnh lên trở lại so với đô la hay euro. Bởi vì từ trước đến nay các nguồn nhập khẩu khí đốt của Nga vẫn được thanh toán bằng euro hay đô la, tức là dưới hình thức này hay hình thức khác, những khoản tiền đó vẫn phải đi qua Ngân Hàng Trung Ương Nga. Thay đổi ở đây là về phía các nhà cung cấp Nga. Vì chiến tranh Ukraina, các tập đoàn năng lượng Nga phải chuyển đổi 80 % và giờ đây là 100 %  ngoại tệ quốc tế sang đồng rúp ». Cho đến thời điểm 05/04/2022 châu Âu không tẩy chay khí đốt của Nga. Gazprom và chi nhánh ngân hàng của tập đoàn này là Gazprobank không nằm trong danh sách các thực thể bị trừng phạt. Gazprom vẫn được quyền nhận vào đô la hay euro, nhưng nếu bắt buộc phải chuyển 80 % hay 100 % thu nhập sang đồng rúp, Gazprom qua trung gian ngân hàng Gazprobank phải giao dịch với Ngân Hàng Trung Ương Nga mà định chế này nằm trong « danh sách trừng phạt » của Âu Mỹ. Vậy liệu rằng đại tập đoàn dầu khí của Nga này có vi phạm lệnh cấm vận quốc tế hay không ? Marc-Antoine Eyl Mazzega, thuộc Viện nghiên Cứu Quan hệ Quốc Tế Pháp cho rằng « Vladimir Putin đang tự bắn vào chân mình » : dầu hỏa và khí đốt bảo đảm đến 36 % ngân sách của liên bang Nga. Gazprom, nạn nhân đầu tiên của Putin Không lẽ sắc lệnh đòi được thanh toán 100 % bằng đồng rúp của chủ nhân điện Kremlin mà một hình thức « đánh » vào chính các tập đoàn Nga hay sao ? Thomas Grjebine : « Vâng, đương nhiên. Quyết định của Vladimir Putin là một áp lực rất lớn đè nặng lên giới tài phiệt Nga, kể cả với Gazrpom. Trước khi nổ ra chiến tranh, Gazprom chuyển đổi một phần các khoản thu vào sang đồng rúp, phần còn lại vẫn là euro hay đô la. Các khoản ngoại tệ này, cho phép Gazprom đầu tư trực tiếp vào công ty của các đối tác ở nước ngoài, chẳng hạn như vào Đức hay Trung Quốc … Nếu như bây giờ phải hoán chuyển 100 % hóa đơn sang rúp, thì coi như là Gazprom phải nộp hết tất cả cho Nhà nước, thông qua Ngân Hàng Trung Ương. Vậy, đây là một hình thức để nhà nước Nga giành lại quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, can thiệp trực tiếp vào Gazprom, vào ngành xuất khẩu khí đốt của Nga. Nếu chỉ nhìn vào cái « được », cái « thua » thuần túy về kinh tế, Kremlin không có lợi gì khi cắt nguồn cung cấp dầu khí cho châu Âu, bởi với giá hiện tại hơn 110 đô la/thùng dầu và từ 5 đến 7 đô la/m3 khí đốt, mỗi ngày Liên Hiệp Châu Âu vẫn rót 750 triệu euro cho các nhà cung cấp Nga bất chấp danh sách trừng phạt càng lúc càng dài. Nhưng tương tự như trong quyết định về quân sự, « không ai biết » Vladimir Putin tính toán những gì, ngoại trừ việc tổng thống Nga dường như đang huy động cả đồng rúp lẫn ngành dầu khí, năng lượng và có thể là nhiều lĩnh vực khác nước phục vụ « chiến tranh ». Về phản ứng của phương Tây, thì cũng có nhiều mâu thuẫn, trong các quyết định trừng phạt Matxcơva xâm chiếm Ukraina và một trong những khúc mắc quan trọng nhất nằm trên hồ sơ năng lượng. Thế kẹt của châu Âu thể hiện qua việc Ngân Hàng Trung Ương Nga bị « trừng phạt » nhưng chi nhánh tài chính của Gazprom là Gazprobank thì mặc dù nhiều thành viên trong hội đồng quản trị Gazprobank là những người thân cận với tổng thống Vladimir Putin và có tên trong danh sách trừng phạt của Âu Mỹ.

9m
Apr 05
Doanh nghiệp phương Tây tháo chạy khỏi Nga, ai hưởng lợi ?

« Đi hay ở ? » là bài toán khó đang đặt ra cho các doanh nghiệp phương Tây hoạt động tại Nga. Từ khi Ukraina bị xâm chiếm, tính đến ngày 18/03/2022 hơn 400 hãng lớn trên thế giới đã thông báo « đình chỉ các hoạt động » tại Nga tránh để mang tiếng tài trợ « cỗ máy chiến tranh » của ông Putin. « Nói dễ hơn làm » bởi đây là một quyết định gây thiệt hại bạc tỷ. Các công ty biết rõ rằng khi đã ra đi thì khó mà quay trở lại. Kèm theo đó là nguy cơ bị tịch thu tài sản và các tập đoàn Trung Quốc lấp vào chỗ trống mà phương Tây để lại.  Không hẹn mà hai hãng bia nổi tiếng trên thế giới Heineken và Carlsberg hôm 28/03/2022 cùng thông báo sẵn sàng bán lại cổ phần, rút lui khỏi thị trường Nga. Từ năm tuần qua, hình ảnh Ukraina bị tàn phá vì tên lửa của Matxcơva khiến danh sách các hãng của Âu-Mỹ quay lưng lại với nước Nga dài thêm theo từng ngày. Các tập đoàn dầu khí Anh-Mỹ, từ BP đến Shell hay ExxonMobil đã mau chóng thông báo ra đi. Cực chẳng đã, con chim đầu đàn trong ngành công nghiệp năng lượng của Pháp là TotalEnergies mãi đến gần đây cũng phải quyết định ngưng mua dầu hỏa, nhưng vẫn không thể từ bỏ các nguồn cung cấp khí đốt của Nga.   Trong ngành xe hơi, vô hình chung hãng xe Pháp Renault là nạn nhân của Kremlin. Tuần trước, Renault, hiện diện trên quê hương của tác giả cuốn Chiến Tranh và Hòa Bình từ những năm 1960, đã buộc phải thông báo tạm đóng cửa các nhà máy. Volvo Group của Thụy Điển đóng cửa nhà máy ở Kaluga, cách thủ đô Matxcơva 150 cây số về hướng tây nam. Đây là nơi mỗi năm sản xuất đến 5.000 xe vận tải. Về phía tập đoàn Đức Daimler Benz thì chuyển nhượng lại 15 % vốn cho đối tác Nga Kamaz. Ngay trong tuần lễ đầu chiến tranh Ukraina, đại lý của nhãn hiện quả táo Apple, chuỗi giải khát Starbucks của Mỹ hay các nhà hàng ăn nhanh McDonald’s trên toàn lãnh thổ Nga đã nhanh chóng đóng cửa. Các nhãn hiệu hạng sang của Pháp cũng cho nhân viên tại Nga tạm nghỉ việc. Nhưng đằng sau những thông báo « đóng cửa », « ngưng hoạt động » hay « rút lui » khỏi thị trường Nga là muôn vàn những thực tế khác nhau vào lúc Matxcơva bị quốc tế trừng phạt kinh tế và tài chính do đưa quân xâm chiếm Ukraina. Nói dễ hơn làm Michel Noiry chủ tịch tổng giám đốc Origa, một cơ quan tư vấn cho các doanh nghiệp, trụ sở tại Paris, giải thích tùy theo lĩnh vực hoạt động của công ty, quyết định « đi hay ở » không phải lúc nào cũng đơn giản. Nếu chỉ là một đại lý xe hơi, hay điện thoại, thì việc đóng cửa tương đối dễ dàng, thiệt hại không nhiều và chỉ ảnh hưởng đến nhân viên quản lý cửa hàng đó mà thôi.  Trái lại nếu đã đầu tư vào các nhà máy sản xuất, vào cơ sở hạ tầng với các đối tác Nga như trong ngành công nghiệp xe hơi hay khai thác dầu khí, quyết định « ra đi » sẽ rất tốn kém và phức tạp về mặt pháp lý. Đó là lý do vì sao một số công ty Âu-Mỹ nói chung, và Pháp nói riêng, bằng mọi giá vẫn duy trì các hoạt động trên lãnh thổ Nga. Trên đài RFI Pháp ngữ, giáo sư Eric Dor giảng dậy tại đại học quản trị kinh doanh IESEG của Pháp giải thích : Eric Dor : « Có nhiều yếu tố giải thích thái độ bối rối của các hãng Pháp mà trước hết là cái giá phải trả khi một tập đoàn tháo chạy khỏi nước Nga. Ví dụ như hãng xe Renault, công ty này nắm giữ 68 % vốn của AvToVAZ và đây là hãng sản xuất xe Lada. Về mặt quốc tế, Nga chiếm 18 % thị phần của Renault và năm 2021 hãng xe Pháp này lãi 250 triệu euro nhờ buôn bán với Nga. Cho nên ngừng hoạt động tại Nga, đóng cửa các nhà máy và các địa điểm phân phối, Renault mất rất nhiều. Bài toán nan giải tương tự như vậy đối với trường hơp của hệ thống siêu thị Auchan hay các hãng chuyên bán vật liệu xây dựng Leroy Merlin hoặc là hãng sữa Danone ». Nga là thị trường lớn thứ nhì của Renault sau Pháp. Đương nhiên viễn cảnh kinh tế Nga kiệt quệ vì chiến tranh, vì các đòn trừng phạt quốc tế, vì đồng rúp mất giá…, đè nặng lên các hoạt động của Renault tại Nga. Một trở ngại khác hóc búa không kém liên quan đến luật kinh doanh của Nga. Như vừa nói Renault chẳng hạn kiểm soát gần 70 % vốn của AvtoVAZ và có đến ba nhà máy sản xuất xe hơi tại Nga. Vậy « ngừng hoạt động tại Nga » ba nhà máy đó sẽ phải đóng cửa tới khi nào ? Tương lai ba cơ sở đó với hàng chục ngàn nhân viên Nga sẽ ra sao ? Đó chưa kể câu hỏi cần giải quyết thế nào 68 % vốn của tập đoàn AvtoVAZ mà hãng xe Pháp đang nắm giữ ? Eric Dor trường quản trị kinh doanh IESEG nêu lên một khía cạnh khác nữa của vấn đề : Eric Dor : « Yếu tố thứ hai tôi muốn nói đến là ngoài những quyền lợi thuần túy về kinh tế, còn có vấn đề lương tâm ở đây nữa. Bốn mươi ngàn người Nga làm việc cho Renault, ngân hàng Société Générale tuyển dụng hơn 12 ngàn nhân viên. Đó là những người làm công ăn lương không nhất thiết họ tán đồng chiến tranh Ukraina nhưng họ cũng không có quyền chống đối. Vậy có nên bắt những người này trả giá hai lần hay không về một hành động hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát và ngoài thẩm quyền của họ ? Đó là chưa kể Danone chẳng hạn, gần như độc quyền bán sữa cho trẻ sơ sinh. Nếu đóng cửa không chắc những đối thủ cạnh tranh của hãng này dễ dàng lấp vào chỗ trống Danone để lại. Không thể xem nhẹ tất cả những yếu tố đó ». Luật kinh doanh của Nga Vào lúc quốc tế trừng phạt chế độ của Vladimir Putin đem quân xâm lấn Ukraina và các hãng ngoại quốc ồn ào thông báo giữ khoảng cách với Nga, tại Matxcơva, phó thủ tướng đặc trách về kinh tế, Andrei Belaussov trình bày « ba giải pháp » chờ đợi các nhà đầu tư nước ngoài : Hoặc là tiếp tục hoạt động tại Nga, hoặc tạm chuyển nhượng cổ phần cho các đối tác Nga để bảo đảm các công ty vẫn được vận hành. Giải pháp sau cùng là vĩnh viễn rời khỏi nước Nga và trong trường hợp đó công ty bị tuyên bố phá sản, chính quyền sẽ chỉ định một đối tác Nga quản lý công ty. Nói cách khác, Nga tịch thu tài sản của nhà đầu tư ngoại quốc. Về phía Pháp, nguồn đầu tư ngoại quốc quan trọng nhất của Nga, bảo đảm việc làm cho trên 160.000 người lao động, câu hỏi đặt ra là liệu rằng 1.200 công ty lớn nhỏ cho đến giữa tháng 2/2022 đang hoạt động tại Nga, có sẵn sàng vất bỏ lại tất cả vì chiến tranh Ukraina hay không ? Chuyên gia về dầu khí, năng lượng, cố vấn của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp, Olivier Appert giải mã thông báo của tập đoàn xăng dầu TotalEnegies « ngừng mua dầu hỏa của Nga » ngay từ cuối 2022, nhưng với khí đốt thì lại là một chuyện khác.  Olivier Appert : « Trên thị trường dầu hỏa, mức độ rủi ro không nhiều, bởi vì TotalEnergies chủ yếu tập trung vào khí đốt. Công ty Pháp đã đầu tư một số tiền rất lớn, khoảng 13 tỷ euro để mua lại một phần của đối tác Nga Novatek. Chắc chắn là Pháp cần khí đốt của Novatek đó là khí hóa lỏng và lợi thế của tập đoàn này là không bị lệ thuộc vào các đường ống dẫn khí đốt của Nga » Cần nói thêm, từ lâu nay TotalEnergies xem nước Nga là chìa khóa để làm chủ thị trường khí đốt - đặc biệt là khí hóa lỏng. Total là nhà đầu tư quan trọng nhất vào khí hóa lỏng của Nga với tham vọng trở thành mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng năng lượng của Nga cho toàn châu Âu và cả một phần thị trường của châu Á. Novatek cho phép tập đoàn Pháp thực hiện giấc mơ đó. Và TotalEnergies biết rõ là vị trí của mình đang được rất nhiều các tập đoàn Trung Quốc nhòm ngó. Nguy cơ hất khỏi thị trường Nga Đối với bất kỳ một công ty nào, thì mục tiêu sau cùng cũng là để kiếm lời, là chinh phục những thị trường mới, là mở rộng uy tín trên thị trường nội địa và quốc tế. Trong ngắn hạn, một nền kinh tế Nga suy sụp không có lợi gì cho các doanh nhân nước ngoài. Không lợi ích gì khi « ở lại » một quốc đã bị loại ra ngoài hệ thống ngân hàng quốc tế và đang trong giai đoạn bị trừng phạt. Thêm vào đó là mang tiếng « tài trợ cho cỗ máy chiến tranh » của một « tên đồ tể » như tổng thống Mỹ Joe Biden đã đánh giá khi nói về ông Putin. Nhưng « ra đi » cũng không dễ mà chưa chắc là đã giúp được gì để ngăn chặn cỗ máy chiến tranh đó. Eric Dor : « Chưa chắc là trong một sớm một chiều các hãng khác có thể nhập cuộc, lấp vào  chỗ trống.Tuy nhiên, khi tháo chạy khỏi thị trường Nga có nghĩa là các hãng của Âu-Mỹ để lại cơ sở, nhà máy và rất có thể là Matxcơva tịch thu tất cả những tài sản đó rồi trao cho các doanh nhân Nga quản lý. Đó là những người thân cận với chính quyền. Và như vậy có khác gì là bán rẻ cho các nhà tài phiệt Nga tài sản của mình hay không ? Nếu như Renault bán lại cổ phần đang nắm giữ của hãng xe AvtoVAZ, ai có điều kiện để mua lại phần vốn đó ngoài các doanh nhân thân với Putin ? Thực sự đây là một vấn đề rất nhậy cảm. Dù vậy cũng phải hiểu rằng các nhãn hiệu lớn của Âu-Mỹ không muốn bị coi là đồng lõa với Nga trong bối cảnh hiện nay ». Kẻ ở người đi, cũng có rất nhiều các nhãn hiệu khác nổi tiếng không kém, bất chấp lệnh trừng phạt của quốc tế, vẫn trụ lại Liên Bang Nga. Đó là trường hợp của hệ thống siêu thị Auchan của Pháp, là dây chuyền phân phối hàng may mặc Mark&Spencer của Anh, là hệ thống nhà hàng ăn nhanh của Mỹ Burger King… Điểm cuối cùng đáng chú ý ở đây là tất cả tranh luận về việc « nên đi hay ở lại Nga » xuất phát từ áp lực của công luận, của những người tiêu dùng và đó là một ý kiến mà các đại tập đoàn càng lúc càng quan tâm.

9m
Mar 29
Công nghệ mới phục vụ chiến tranh Ukraina

Internet và đội quân cyber (IT Army) làm tiêu tan hy vọng của Nga bắt Ukraina nhanh chóng đầu hàng. Kiev trực tiếp cầu cứu các tập đoàn « digital » của Mỹ hỗ trợ. Lần đầu tiên ngành công nghệ cao trực tiếp « lên tuyến đầu » trong chiến tranh. Công nghệ mới thời đại kỹ thuật số là một bước ngoặt trong chiến thuật quân sự của các bên. Chuyên gia trường quân sự Saint Cyr của Pháp, Julien Nocetti phân tích về vai trò của các công nghệ kết nối trong chiến tranh Ukraina. Ngoài Kiev, phương Tây đã tăng cường khả năng phòng thủ đề phòng đối phó với các đợt tấn công cyber kể từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina. Xung đột thời đại kỹ thuật số đang diễn ra dưới những hình thức nào ? Công nghệ kết nối giúp ích được gì và đặt ra những thách thức nào cho các bên tham chiến ? Trong cuộc đọ sức quân sự bất tương xứng với Nga, Ukraina dường như đang chiếm thế thượng phong nhờ các phương tiện « kết nối ».  Trước khi lên đường sang châu Âu dự thượng đỉnh bất thường của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, thăm Ba Lan trong bối cảnh châu Âu đang là cái « chảo lửa » từ khi Nga xâm lăng Ukraina, tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 21/03/2022 cảnh báo các doanh nghiệp đề phòng bị tin tặc Nga tấn công. Luân Đôn đã tăng cường khả năng phòng thủ trước các toán tin tặc. Pháp, Đức Liên Hiệp Châu Âu đồng loạt đặt các đội ngũ an ninh mạng trong tình trạng báo động. Điều đó cho thấy quốc tế lo ngại những phương tiện mới trong chiến tranh Ukraina có thể đe dọa trực tiếp đến những « điểm nhậy cảm đối với an ninh » của Âu, Mỹ. Ukraina là cuộc chiến đầu tiên internet trở thành một « mặt trận nóng ». Cả Kiev lẫn Matxcơva cùng sử dụng internet như một « vũ khí » tấn công và giới chuyên gia về tin học cũng như là quân sự đồng loạt lo ngại trước các đòn tấn công « dồn dập hơn, nguy hiểm hơn ». Ukraina : Công nghệ mới là « một giải pháp chống xe tăng » của Nga   Trước giờ Matxcơva « khai quân » hôm 24/02/2022, hệ thống tin học của phủ thủ tướng, bộ Quốc Phòng, Ngân Hàng Trung Ương Ukraina... bị « tê liệt ». Sau gần một tháng chiến tranh, mối lo của Ukraina vẫn là hệ thống viễn thông bị đánh sập,  quốc gia châu Âu này bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Đồng thời, khả năng kháng cự của Kiev trước vòng vây của quân đội Nga từ gần một tháng nay cho thấy, Ukraina làm chủ khá tốt các công nghệ mới, kể cả trong mục tiêu quân sự, bởi lẽ « Ukraina là một trong những mắt xích quan trọng của các tập đoàn tin học, điện tử » trên thế giới. Nhân viên Ukraina có tay nghề cao, lương phải trả cho họ chỉ bằng « một nửa, thậm chí là một phần ba so với tại các nước Tây Âu » như ghi nhận của báo Le Monde (số ngày 08/03/2022). Nhiều hãng lớn trong ngành, từ Ubisoft ông vua trên thị trường video games, đến Akka Technologies, hay Capgemini, Teleperformance …  chuyên cung cấp dịch vụ tin học đều đã hoạt động tại Ukraina từ nhiều năm qua. Với 36.000 kỹ sư tin học tốt nghiệp hàng năm, tại châu Âu, Ukraina được xem là 1 trong 5 nước được đánh giá cao nhất trong lĩnh vực này. Năm 2021 Ukraina « xuất khẩu » đến 6 tỷ euro các dịch vụ tin học cho các quốc gia khác trên thế giới ! Ngay những ngày đầu chiến tranh, phó thủ tướng Ukraina, Mikhailo Fedorov kiêm bộ trưởng bộ trưởng Bộ Công Nghệ Mới đã nói đến « mặt trận cyber », đến việc thành lập một « đội quân kháng chiến cyber » với nhiệm vụ « bảo vệ những cơ sở hạ tầng kỹ thuật » của Ukraina trước các đòn tấn công mạng từ phía Nga. Fedorov quả quyết « công nghệ có thể là một giải pháp chống xe tăng của Nga ». Kiev không chỉ trong thế thủ mà còn tung đòn tấn công nhằm « gây rối loạn các trang mạng chính thức của Nga, từ website của các cơ quan chính phủ, đến ngân hàng Nga và kể cả mạng xã hội của các quan chức hay truyền thông Nga ». Vậy chiến tranh thời đại kỹ thuật số đang diễn ra như thế nào ? Trả lời RFI Việt ngữ, Julien Nocetti, chuyên về địa chính trị và công nghệ mới thuộc trường đào tạo các sĩ quan của Pháp, Saint Cyr thận trọng cho rằng chưa thể định nghĩa một cách thấu đáo về thế nào là một cuộc chiến « cyber » nói chung và trong trường hợp của Ukraina hiện tại nói riêng, nhưng với những gì quan sát được tới thời điểm này, thì các công nghệ kết nối đã cho phép các bên liên quan đọ sức trên nhiều mặt khác nhau  :  Julien Nocetti : "Lo ngại về khả năng dùng các phương tiện công nghệ mới để tấn công thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Trước hết là những vụ phá hoại mạng cáp quang dưới lòng biển để đánh cắp các nguồn dữ liệu và thông tin. Điểm này rất là quan trọng trong thời đại công nghệ số hiện nay. Ở nấc thứ nhì, đó có thể là những vụ tấn công diễn ra trên không gian, thí dụ như là phá hoại hay làm nhiễu sóng vệ tinh. Thế rồi trên mặt đất, đối phương cũng có thể nhắm vào các cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị viễn thông. Tất cả đều là những hành vi vừa nêu đều mang tính quân sự. Đó là chưa kể đến khả năng những đợt tấn công này vượt ngoài phạm vi lãnh thổ và quyền lợi của riêng Ukraina. Có nghĩa là phía Nga có thể nhắm vào những quyền lợi và cơ sở của châu Âu hay Hoa Kỳ. Các tập đoàn công nghệ cao nhập cuộc Chiến tranh Ukraina cũng là lần đầu tiên, các tập đoàn công nghệ tin học nhập cuộc. Kiev chính thức cầu viện các hãng GAFA của Mỹ. Elon Musk, trực tiếp thách thức Vladimir Putin khi đứng về phía các Ukraina. Chủ nhân SpaceX đồng ý kết nối Ukraina vào hệ thống vệ tinh Starlink hòng bảo đảm quốc gia này không bị cắt internet. Trong thời chiến, đây là một sự « hỗ trợ quý giá » đối với thường dân Ukraina. Tuy nhiên theo các phương tiện truyền thông quốc tế, vệ tinh của SpaceX còn là một công cụ lợi hại giúp quân đội Ukraina xác định vị trí của các đoàn xe tăng Nga. Nhà tỷ phú người Mỹ này biết rõ, parabole của Starlink giờ đây trở thành « mục tiêu của quân đội Nga ». Julien Nocetti trường quân sự Saint Cyr đi sâu vào chi tiết về những công nghệ mới sử dụng trong xung đột Ukraina lần này Julien Nocetti : "Những phương tiện công nghệ mới bao gồm từ drones, tức là thiết bị bay tự hành. Ukraina đã có một sự chuẩn bị khi mua drones của Thổ Nhĩ Kỳ. Kế tới là các mạng xã hội đã giúp cho Ukraina nhiều về mặt chiến lược. Thí dụ đã có những nhóm phân tích hình ảnh vệ tinh và hệ định vị để xác định được vị trí, xác định được đường đi nước bước của quân Nga. Điều này giúp cho Ukraina thông báo kịp thời cho dân đi trú bom, đồng thời đây cũng là phương tiện để Kiev báo động với cộng đồng quốc tế về những gì đang xảy ra trên lãnh thổ Ukraina. Phải nói đây là lần đầu tiên trong chiến tranh, đường đi nước bước của bên địch gần như là được biết rõ gần như là trực tiếp. Rõ ràng là các công nghệ mới đã trở thành một yếu tố trong những tính toán về chiến thuật nhất là của phía Ukraina". Công nghệ mới, những phương tiện kết nối trong thời đại kỹ thuật số đang làm đảo lộn cả từ chiến lược phòng thủ đến chiến thuật tấn công, và nhìn rộng ra hơn là « cục diện chiến tranh ». Chuyên gia về tin học và địa chính trị trường đào tạo sĩ quan của Pháp, Saint Cyr phân tích : Julien Nocetti : "Cho đến hiện tại xung đột Ukraina cho thấy các công nghệ mới và các hoạt động trong thế giới cyber đã bước sang một khúc quanh mới. Từ bốn đến sáu năm trước đây, phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, khi nói đến các hoạt động tin tặc nhất là trong lĩnh vực quân sự, người ta chú trọng nhiều vào thế tấn công. Nhưng càng lúc các bên càng tập trung vào thế thủ để nâng cao khả năng kháng cự trước vụ cyber attack. Các bên ý thức được rằng nâng cao khả bảo vệ các mạng liên lạc và viễn thông là một yếu tố trong chính sách phòng thủ quân sự. Một bài học khác nữa là Ukraina đã chuẩn bị từ trước, tăng cường hợp tác với phương Tây để đối phó với các kịch bản bị tấn công về tin học, hay hệ thống viễn thông bị hư hại. Chính điều này cho phép Ukraina cầm cự được trong những tuần qua, thậm chí là theo dõi sát mỗi lần đội quân Nga di chuyển. Thế rồi trong những ngày đầu cuộc chiến, hình ảnh cả đoàn xe tăng, xe tải  của quân Nga dậm chân tại chỗ, không tiến được xâu hơn vào Ukraina, đó cũng rất có thể do hệ thống liên lạc của Nga bị phá hoại. Đây sẽ là một trong những thách thức lớn nhất với tất cả những cuộc xung đột trong tương lai, đăc biệt là nếu như các đòn tấn công vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ Ukraina và nhắm đến một số cơ sở  của Mỹ hay châu Âu hoặc là ở bất kỳ nơi nào khoác trên thế giới. Cục diện chiến tranh khi đó sẽ thay đổi hoàn toàn".  Mạng xã hội bị « kẹt » vì chiến tranh Cũng ông Nocetti lưu ý các tập đoàn công nghệ số của Mỹ « càng lúc càng đóng một vai trò quan trọng hơn » trong cuộc xung đột Ukraina. Kiev đã trực tiếp yêu cầu từ Google đến Twitter giúp đỡ. Matxcơva cấm cửa các công ty này và đưa từ Intagram đến Facebookvà danh sách đen các « đối tượng cực đoan »… Nhưng điều không tránh khỏi là các mạng xã hội bị cả Nga lẫn Ukraina khai thác trong công tác tuyên truyền. Julien Nocetti : "Các tập đoàn công nghệ kỹ thuật số giờ đây là một yếu tố không thể tách rời trong xung đột Ukraina lần này và đây là một điểu hết sức mới. Trong đợt Ukraina bị xâm chiếm hồi 2014 chẳng hạn các hãng tin học không đóng một vai trò quan trọng như lần này. Giờ đây phải nói là các tập đoàn như Google, Facebook hay Twitter « lên tuyến đầu » do vậy bản thân các hãng này của Mỹ bắt buộc phải kiểm soát tối thiểu những nội dung được đăng tải, phải phối hợp với chính phủ tránh để xảy ra những hậu quả tai hại".   Chiến tranh và quyền lợi kinh tế Nhưng cũng chưa bao giờ, trong một cuộc xung đột vũ trang, các tập đoàn tin học và công nghệ cao lại trả giá đắt như trong xung đột  Nga-Ukraina và hơn thế nữa tác động từ « chảo lửa » này ảnh hưởng đến kinh tế toàn thế giới. Julien Nocetti trường Saint Cyr cho biết tiếp : Julien Nocetti : "Về mặt kinh tế, đầu tiên hết là các biện pháp cấm vận vừa dồn dập vừa mạnh tay quốc tế ban hành trừng phạt Nga xâm chiếm Ukraina. Song song với các diễn biến quân sự trên hiện trường, xung đột này còn đem lại nhiều hậu quả về mặt địa chính trị và kinh tế. Trong thế giới toàn cầu hóa, các nền kinh tế lệ thuộc vào lẫn nhau, từ 2019  thế giới đã thiếu linh kiện bán dẫn. Chuỗi cung ứng toàn cầu lại càng có nguy cơ bị trật đường ray. Bởi như đã biết, Nga là một sản xuất và xuất khẩu hàng đầu thế giới về khí néon, về chất palladium. Có nhiều kim loại hiếm tập trung ở cả Nga lẫn Ukraina. Trong những tháng tới, thậm chĩ là những năm tới, hệ thống sản xuất của toàn cầu sẽ bị xáo trộn khi mà một số mắt xích trong chuỗi cung ứng của thế giới đang được đặt ở đông Âu". Báo chí nói nhiều đến khái niệm « cyberwarfare » trong xung đột Ukraina do các đợt tấn công trên mạng dồn dập nhắm vào các cơ quan chính thức của hai phe, do các chiến dịch tuyên truyền và thông tin sai lạc cả từ phía Matxcơva lẫn Kiev đểhù doạn hay làm lung lạc đối phương. Sau bốn tuần lễ chiến tranh, nhà nghiên cứu Rayna Stamboliyska chuyên về an ninh mạng và chính sách ngoại giao thời đại kỹ thuật số thận trọng cho rằng kịch bản dùng công nghệ kết nối – trên bộ, dưới lòng đại dương, hay trên không gian, để thay thế các đội binh truyền thống là viễn vông. Trước mắt các toán tin tặc chỉ đóng một vai trò « bổ sung » cho quân đội chính quy. Dù vậy các « đội quân IT »  có rất nhiều công cụ trong tay để can thiệp. Điểm tứ ba được nhà quân sát này lưu ý đó là trong một cuộc xung đột thời đại kỹ thuật số, các bên liên quan có thể là « một Nhà nước » hay một yếu tố « không thuộc về Nhà nước » thí dụ như tổ chức Anonymous tuyên chiến với Nga để bảo vệ Ukraina nhưng Anonymous là một chiếc hộp đen, gồm những thành phần nào, đó vẫn hoàn toàn là một ẩn số mà ngay cả giới trong ngành cũng không biết rõ dụng ý tốt hay xấu của những người lính cyber đó. Một điểm được Julien Nocetti, trường quân sự Pháp Saint Cyr ghi nhận là Ukraina đã có một sự chuẩn bị khá tốt để đối phó với các đợt tấn công cyber. Công nghệ kết nối là tai mắt của các nhà quân sự trước mỗi cuộc hành quân. Câu hỏi còn lại là liệu rằng những tập đoàn như Meta, công ty mẹ của Facebook hay Microsoft … bên cạnh các mục tiêu về kinh tế, có sẵn sàng đóng vai trò hàng đầu trong các hoạt động về quân sự hay không ?

11m
Mar 22
Nga không thể né lệnh trừng phạt quốc tế nhờ tiền ảo

Để tránh lệnh trừng phạt quốc tế do xâm chiếm Ukraina, Nga không thể trông cậy vào tiền ảo. Matxcơva còn nhiều nghi vấn về tiền điện tử và lo sợ đồng rúp, một đồng tiền pháp định bị các loại tiền mã hóa đe dọa. Chuyên gia về tiền ảo, Hugo Estecahandy, Viện Nghiên Cứu Pháp về Địa Chính Trị - IFG nêu bật những yếu tố cho thấy còn quá sớm để khẳng định rằng tiền ảo giúp Nga giải tỏa các biện pháp cấm vận của phương Tây.   Iran hay Bắc Triều Tiên do bị quốc tế trừng phạt vì phát triển vũ khí hạt nhân, đã dùng tiền ảo để lách các biện pháp cấm vận của quốc tế, vậy liệu rằng nước Nga của tổng thống Vladimir Putin có thể làm như vậy được hay không ? Trả lời ban tiếng Việt RFI Hugo Estecahandy thuộc Viện Nghiên Cứu Pháp về Địa Chính Trị Pháp - IFG trước hết lưu ý đến khác biệt cơ bản về trọng lượng của Bắc Triều Tiên chẳng hạn so với nước Nga trên bàn cờ thương mại quốc tế. Estecahandy nghiên cứu về các hoạt động « đào tiền ảo » trong vùng Siberia. Anh có mặt tại Matxcơva khi nổ ra chiến tranh Ukraina và đã phải chuyển công tác Nga sang Ouzbekistan, một nước Trung Á từng thuộc về Liên Xô cũ. Hugo Estecahandy : « Nga chưa phải là Bắc Triều Tiên. Bình Nhưỡng đã phát triển một hệ thống chuyên đánh cắp tiền mã hóa, có hẳn một đội ngũ tin tặc làm việc cho Nhà nước Bắc Triều Tiên nhằm mục đích này, dù vậy đây cũng chỉ là một trong những giải pháp cho phép Bắc Triều Tiên vẫn thu về ngoại tệ cho dù kinh tế quốc gia đông bắc Á này bị phong tỏa từ nhiều thập niên qua. Trường hợp của nước Nga hoàn toàn khác : Cho đến rất gần đây, kinh tế Nga hoàn toàn hòa nhập với thế giới cả về mậu dịch lẫn tài chính ».  Tránh vơ đũa cả nắm Khác với Bắc Triều Tiên hay Iran, Nga là một quốc gia với 144 triệu dân, với 1.500 tỷ đô la GDP, ngành xuất nhập khẩu chiếm gần một nửa tổng sản phẩm nội địa. Matxcơva gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới từ năm 2012, là nguồn xuất khẩu thứ 16 trên toàn thế giới và đứng thứ 21 trong số các quốc gia nhập khẩu. Về hàng hóa, năm 2020 Nga xuất khẩu hơn 330 tỷ đô la, theo thống kê của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Ngân Hàng Trung Ương Nga hiện đang nắm giữ 640 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ mà phần lớn là bằng đô la và euro (đồng nhân dân tệ Trung Quốc chiếm 17 %). Kể từ khi khai mào chiến tranh Ukraina, Hoa Kỳ và Liên Âu cùng nhiều đồng minh châu Á đã lập tức ban hành lệnh phong tỏa tài sản của Nga ở nước ngoài, cắt đứt gần như toàn bộ giao thương với Nga. Nga bị cấm cửa hệ thống giao dịch ngân hàng quốc tế SWIFT. Kịch bản dùng tiền ảo thay thế đô la nghe qua có vẻ hấp dẫn. Song, dùng các loại tiền ảo để thu vào hàng chục, hàng trăm triệu đô la xuất khẩu dầu hỏa, lúa mì … là « điều không tưởng » theo đánh giá của nhà nghiên cứu Estecahandy viện IFG. Chỉ riêng hóa đơn về dầu khí, tùy theo giá thị trường, mỗi ngày Liên Hiệp Châu Âu phải mua vào từ 500 đến 800 triệu đô la năng lượng của Nga. Với khối lượng ngoại tê to lớn như vậy, Nga khó có chuyển sang dùng Bitcoin hay bất cứ một đơn vị tiền ảo nào khác. Dù vậy từ vài ngày trước khi tổng thống Vladimir Putin ra lệnh tấn công Ukraina trên các mạng mua bán tiền ảo, một khối lượng lớn những đơn vị tiền ảo như Bitcoin, Tether hay USDT … đã được mua vào với đồng rúp của Nga. Giá một đồng Bitcoin tăng 10 % trong một tuần lễ, theo như quan sát của Coinbase và Binance, hai trung tâm môi giới tiên ảo trên mạng. Hugo Estecahandy trên đài RFI phân biệt rõ vấn đề ở « nhiều cấp khác nhau ». Hugo Estecahandy : « Không thể có chuyện chính quyền Nga hay các định chế ngân hàng Nga tung ra hay thu vào những khối tiền khổng lồ mà không ai hay biết. Dù vậy vất đề đặt ra ở nhiều cấp. Matxcơva không thể dùng tiền ảo để thanh toán hóa đơn với các đối tác thương mại quốc tế. Những nhân vật nổi tiếng bị phương Tây trừng phạt, bị phong tỏa tài sản không thể dùng tiền ảo để chuyển tiền ra nước ngoài hay đưa tài sản từ ngoại quốc về Nga. Ngân Hàng Trung Ương Nga cũng không thể dùng tiền điện tử để đưa một phần các khoản dự trữ ở nước ngoài về Nga với hy vọng lách lệnh trừng phạt quốc tế, bởi như vậy thì không khác gì là nhìn nhận đồng rúp mất tính chính đáng. Do vậy không thể tính đến chuyện các đơn vị tiền điện tử thay thế đồng rúp, toàn bộ các hoạt động tài chính, ngân hàng và thương mại của Nga sử dụng tiền ảo ». Nhưng ở cấp cá nhân thì khác và trong khuôn khổ hạn hẹp của kinh tế vi mô, thì khác. Chuyên gia Pháp cho biết thêm về những gì anh đã trải qua trong những ngày còn công tác tại Matxcơva sau khi chiến tranh Ukraina bùng nổ : Hugo Estecahandy : « Cách này vài ngày khi còn ở Nga tôi đã trông thấy cảnh tượng dân chúng bị hạn chế trong việc rút tiền mặt và từ đó đã nảy sinh ra nhiều sáng kiến ở cấp cá nhân. Sáng kiến thứ nhất kể từ khi phương Tây trừng phạt, số lượng tiền ảo được mua bằng đồng rúp đã tăng mạnh. Điều đó có nghĩa là dân Nga đua nhau mua vào tiền ảo, nhất là các loại tiền được gọi là stable coins. Đó là những đơn vị tiền điện tử có giá trị được gắn vào đồng đô la Mỹ, vào đồng tiền chung châu Âu hay là vào giá vàng. Điều đó cho thấy công luận Nga đề phòng khả năng đồng rup mất giá. Sáng kiến thứ hai tôi được chứng kiến là một số người Nga đã dùng tiền ảo như một phương tiện để mua bán. Đơn giả là vì họ bị giới hạn khi cần rút tiền mặt bằng đồng rúp, và người Nga cũng biết là đồng rúp sẽ bị mất giá. Nhưng xin nhắc lại, cả hai sáng kiến xoay qua việc dùng tiền ảo thay thế cho đồng rúp chỉ phổ biến ở quy mô nhỏ, ở cấp cá nhân mà thôi ».  Nguyên tắc của tiền ảo Trở lại với thể thức vận hành của một đồng tiền ảo vốn được các tổ chức tội phạm dùng để « rửa tiền », hay một số quốc gia sử dụng : Tại sao truyền thông quốc tế quả quyết rằng, tiền ảo giúp Nga thoát lệnh trừng phạt của phương Tây ? Hugo Estecahandy : « Bởi vì tiền ảo đã được hình thành để lách luật, để không bị phụ thuộc vào hệ thống tài chính đang hiện hành, thí dụ như hệ thống giao dịch giữa các  ngân hàng quốc tế SWITF hay hệ thống thẻ tín dụng Visa, Mastercard… Đồng tiền ảo được biết đến nhiều nhất là Bitcoin. Đơn vị tiền tệ này đã được tạo ra để lách những biện pháp kiểm soát của chính phủ, của các định chế ngân hàng ở cấp quốc gia và quốc tế. Đồng tiền này cho phép mọi người dùng để thanh toán trên mạng và như vậy, về nguyên tắc, và chỉ là về nguyên tắc thôi, không một cơ quan chức năng nào có thể áp đặt các khung pháp lý với những người sử dụng tiền ảo». Trên thực tế, ngay cả các mạng giao dịch tiền ảo cũng bị kiểm soát và theo dõi chặt chẽ. Các cơ quan quản lý tiền tệ của Âu, Mỹ biết rõ danh tính những người « ra lệnh » mua vào hay bán ra Bitcoin. Một tuần lễ sau khi quân đội Nga xâm lăng Ukraina giám đốc điều hành Coinbase thông báo « cấm cửa » 25.000 tài khoản mua bán tiền ảo trên mạng này từ các « thân chủ Nga ». Binance cũng đưa ra quyết định tương tự cho dù điều đó « hoàn toàn ngoài ý muốn » của Binance, bởi áp đặt các biện pháp « kiểm soát các luồng mua bán tiền ảo trái ngược với nguyên tắc hoạt động cơ bản của thế nào là một đồng tiền crytocurrency ». Lập trường của Nga về tiền ảo ? Một câu hỏi quan trọng khác được đặt ra ở đây là tiền ảo có được sử dụng một cách phổ biến tại Nga hay không ? Bởi dường như tới nay còn nhiều mâu thuẫn trong lập trường của Matxcơva về tiền ảo. Hugo Estecahandy : « Đây là một câu hỏi rất phức tạp. Từ 4-5 năm nay, trong nội bộ giới lãnh đạo ở Nga vẫn chưa tìm được đồng thuận chung về vấn đề khuôn khổ pháp lý nào để quản lý tiền ảo, về việc sử dụng công cụ thanh toán này … Ngân hàng Trung Ương thì chủ trương rúp là đơn vị tiền tệ quốc gia duyn nhất nhằm bảo đảm quyền tự chủ của Nga trong lĩnh vực tiền tệ trên toàn lãnh thổ.  Trái lại một số bộ thì có thiên hướng xoay sang tiền mã hóa để mang lại một làn gió mới cho kinh tế Nga. Nhưng đó là ở thời ký trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina ».   Nhà nghiên cứu người Pháp này nhắc lại, mới chỉ tháng Giêng 2021 Nga cho phép tư nhân « đào tiền » ảo, được quyền mua vào hay bán ra mọi đơn vị tiền mã hóa. Nhưng Matxcơva cấm sử dụng các đơn vị tiền tệ này như một phương tiện thanh toán trên lãnh thổ Nga, chẳng hạn như để mua xe, trả tiền học tư cho con em. Đến tháng Giêng năm nay Ngân Hàng Trung Ương Nga công bố một bản báo cáo kêu gọi chính phủ cấm các hoạt động « đào tiền ảo ». Định chế này đánh giá đây là « mầm mống đe dọa đến các khoản tiết kiệm của các hộ gia đình Nga và có nguy cơ làm dấy lên các hoạt động tài chính phi pháp ». Cũng trong báo cáo này, Ngân Hàng Trung Ương đề nghị chính phủ phát triển dự án đồng rúp điện tử. Đó là một đồng tiền pháp định, do Ngân Hàng Trung Ương phát hành và quản lý. Matxcơva thiên về giải pháp phát hành một đồng rúp điện tử theo mô hình đồng nhân dân tệ điện tử Trung Quốc. Tuy vậy dự án của Nga còn trong giai đoạn phôi thai Hugo Estecahandy giải thích Nga muốn mở rộng vai trò của đồng tiền điện tử, với điều kiện Nhà nước và Ngân Hàng Trung ương kiểm soát toàn bộ về chính sách tiền tệ ngay cả trong thời đại kỹ thuật số. Dù vậy có thể tạm thời rút ra hai kết luận : thứ nhất là chiến tranh Ukraina làm lộ rõ tầm mức quan trọng của tiền ảo cho dù các loại tiền đó chưa và không thể giúp Nga giảm bớt tác động trừng phạt. Thứ hai là không chỉ thu gọn trong lĩnh vực tiền ảo, mà các công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ số đang đóng một vai trò hàng đầu khi nổ ra chiến tranh. Tạp chí kỳ tới của RFI sẽ tập trung vào vai trò then chốt của các công nghệ mới trong chiến tranh mà xung đột Ukraina là bài toán trắc nghiệm đầu tiên.

9m
Mar 15
Chiến tranh Ukraina : Trung Quốc chờ cơ hội

Nga xâm lăng Ukraina và kinh tế bị phương Tây phong tỏa tứ bề, thế nhưng Kremlin vẫn còn một ngõ thoát hiểm là Trung Quốc. Nhìn từ Bắc Kinh, đâu là những được, thua và giới hạn khi giúp Matxcơva giảm nhẹ tác động của các biện pháp trừng phạt ? Ukraina, một mắt xích trong dự án Con Đường Tơ Lụa Mới và nguy cơ ngành xuất khẩu bị « vạ lây » là những yếu tố thử thách « tình bạn vĩnh cửu » giữa Trung Quốc và Nga. Ngay sau khi tổng thống Vladimir Putin quyết định xâm lược Ukraina, quốc tế dồn dập ban hành các biện pháp cấm vận nhắm vào kinh tế, vào hệ thống tài chính ngân hàng Nga. Tài sản của một số nhà tỷ phú Nga tại Anh, Đức hay Pháp bị « phong tỏa ». Nhiều tập đoàn đa quốc gia, từ nhãn hiệu Apple của Mỹ đến hãng dầu khí Anh BP, hệ thống Thụy Điển phân phối đồ dùng trong nhà IKEA hay biểu tượng của ngành thời trang hạng sang Pháp Hermès, Chanel … lần lượt thông báo ngừng hoạt động tại Nga. Phương Tây lần đầu tiên loại hầu hết các ngân hàng Nga ra khỏi hệ thống SWIFT, qua đó chận mọi dịch vụ chuyển ngân giữa Nga với các khách hàng trên thế giới và các hoạt động xuất nhập khẩu của Nga bị đóng băng. Hơn một chục ngày Ukraina sống dưới bom, đạn của quân đội Nga, Âu Mỹ tiếp tục nhập khẩu dầu khí của Nga và vẫn chưa tìm được phương án thay thế. Do lệ thuộc đến 40 % vào một nguồn cung cấp khí đốt duy nhất là Nga, tùy theo thời giá mỗi ngày Liên Hiệp Châu Âu vẫn rót vào ngân quỹ của Nga từ 500 đến 800 triệu euro. Riêng đối với Nga, hậu quả kèm theo từ những đợt trừng phạt nói trên là đồng rúp tuột giá không phanh – mất 20% trong phiên giao dịch hôm 28/02/2022 so với đô la, hàng chục ngàn nhân viên Nga mất việc do các công ty nước ngoài rút lui hay tạm ngừng hoạt động. Lá bài Trung Quốc Vào lúc bị quốc tế cô lập, nước Nga của tổng thống Vladimir Putin có thể trông cậy vào láng giềng Trung Quốc để giảm nhẹ hậu quả của những biện pháp trừng phạt của phương Tây : Bắc Kinh thông báo mở rộng thỏa thuận nhập khẩu lúa mì với nước Nga. Berlin « đóng cửa » đường ống Nord Stream 2 đưa khí đốt của Nga sang tận cảng Greiswald, miền bắc nước Đức, thì Bắc Kinh và Matxcơva rầm rộ thông báo khởi động một dự án đường ống dẫn khí đốt thứ nhì Power of Siberia, đi qua Mông Cổ, có công suất 50 tỷ mét khối /năm, tương đương với công suất của Nord Stream 2 tại châu Âu. Nga trông cậy vào Trung Quốc bởi nhiều lý do : Bắc Kinh nhiều tiền, như ghi nhận của chuyên gia kinh tế Paola Subacchi đại học Luân Đôn. Ngoài ra Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại, tài chính hàng đầu của Nga từ nhiều năm qua. Mối quan hệ đó càng được mở rộng từ khi Matxcơva thôn tính bán đảo Crimée năm 2014 và bị phương Tây trừng phạt. Sau cùng, Nga là một trong những nguồn cung cấp năng lượng hàng đầu thế giới, còn Trung Quốc cần từ dầu khí đến khoáng sản của Nga để phục vụ cỗ máy sản xuất. Do căng thẳng địa chính trị, trong hai tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch nhập khẩu Nga với Trung Quốc tăng hơn 40 % so với cùng thời kỳ năm ngoái (theo thống kê của Hải Quan Trung Quốc). Nga lại càng lệ thuộc hơn vào Trung Quốc Giới quan sát thậm chí xem Trung Quốc là « cái phao » kinh tế của nước Nga ở thời điểm này. Bắc Kinh khẳng định là « đối tác thương mại số 1 của Nga » theo như thông cáo gần đây của bộ Thương Mại. Trả lời đài phát thanh France Culture, (hôm 05/03/2022) chuyên gia kinh tế Françoise Nicolas, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp đặc trách khu vực châu Á, đưa ra hai con số cho thấy, khối 27 nước trong Liên Hiệp Châu Âu mới là khách hàng quan trọng nhất của Bắc Kinh : Françoise Nicolas : « Có hai góc độ khác nhau : thứ nhất, quả thực là câu hỏi Trung Quốc có thể làm được những gì để hỗ trợ Nga trên phương diện kinh tế và thứ hai là Bắc Kinh có lợi gì khi đứng về phía Matxcơva. Ngay trên điểm đầu tiên, cần lưu ý rằng mọi người cứ xoáy vào chỗ Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Nga. Không đúng là như vậy. Đối tác kinh tế và thương mại quan trọng nhất của Nga là Liên Hiệp Châu Âu, chiếm 34 % tổng trao đổi mậu dịch của nước này. Trong khi đó Trung Quốc chỉ chiếm có 18 %. Nói cách khác trọng lượng của Trung Quốc không thấm vào đâu so với châu Âu trên thị trường Nga. Một điểm cần lưu ý khác, Liên Âu và Trung Quốc cùng là bạn hàng của Nga nhưng không xuất hay nhập khẩu cùng những mặt hàng như nhau. Thành thử Trung Quốc không thể thay lấp vào chỗ trống mà Liên Hiệp Châu Âu để lại ». Theo thống kê châu Âu Eurosat, tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Liên Âu và Trung Quốc năm 2021 đạt 604 tỷ euro. Về xuất và nhập khẩu, Liên Hiệp Châu Âu là « khách hàng nặng ký thứ nhì của Trung Quốc ». Nga đứng hạng thứ 18. Năm 2020 mậu dịch song phương giữa Nga và Trung Quốc đạt chưa đầy 150 tỷ euro. Thực hư về hồ sơ năng lượng Ngay cả về năng lượng, đành rằng Nga bảo đảm 20 % khí đốt và 30 % dầu hỏa cho Trung Quốc nhưng đối với nước Nga, Liên Hiệp Châu Âu mới là khách hàng quan trọng nhất và gần 80 % khí đốt khai thác dành để bán sang châu Âu. Do vậy còn quá sớm để cho rằng Nga dễ dàng trông cậy vào Trung Quốc ngay cả về năng lượng, nhất là về khí đốt. Françoise Nicolas : « Những mặt hàng đó, phải đi qua ngả các đường ống dẫn khí đốt. Không dễ để dịch chuyển những đường ống đó. Hai đường ống dẫn sang châu Âu và Trung Quốc hoàn toàn khác nhau và không có bất kỳ một điểm nào để kết nối vào với nhau. Khí đốt cung cấp cho châu Âu được khai thác từ vùng Tây Siberi, ngược lại khí đốt bán cho Trung Quốc xuất phát từ vùng Đông Siberia. Năm 2014 sau khi Nga chiếm bán đảo Crimée của Ukraina, Matxcơva và Bắc Kinh đã ký hợp đồng cho phép tăng mức xuất khẩu sang Trung Quốc qua ngả đường ống mang tên Power of Siberia. Đây là một đoạn đường dài hơn 2.000 cây số đã được khánh thành hồi 2019. Trên nguyên tắc mỗi năm Nga cũng cấp 38 tỷ mét khối cho Trung Quốc qua ngả này. Nhưng cho đến cuối 2021, tức là sau 2 năm hoạt động, năng suất thực sự chỉ ở khoảng 10 tỷ mét khối một năm. Để so sánh, 70 % khí đốt của Nga dành để xuất khẩu sang Châu Âu. Do vậy trong trường hợp Bruxelles ngừng mua khí đốt của Nga, trước mắt Trung Quốc không thể bù đắp cho khoản thất thu từ  của Nga với đối tác châu Âu ». Một điểm thứ ba được chuyên gia kinh tế của viện IFRI nêu bật đó là một mặt Bắc Kinh tránh lên án Nga xâm chiếm Ukraina, nhìn nhận những băn khoăn của Matxcơva « về an ninh quốc gia là chính đáng », nhưng hậu thuẫn hành động quân sự của Nga, hay công khai giúp Matxcơva lách các biện pháp trừng phạt quốc tế, như thể thách thức phương Tây, lại là một chuyện khác : Françoise Nicolas :« Tôi không chắc là Bắc Kinh cương quyết, công khai hay cố tình hỗ trợ Nga lách lệnh trừng phạt quốc tế bởi Trung Quốc và Ukraina có một mối bang giao chặt chẽ về mặt thương mại và không không muốn để mất đối tác này. Bên cạnh đó Trung Quốc lo ngại bị vạ lây nếu bao che quá lộ liễu cho nước Nga, bởi như đã biết, không vì nước Nga mà Bắc Kinh gây nên hiềm khích với Liên Âu và qua Liên Âu là cả Hoa Kỳ ». Chiến tranh Ukraina, thách thức và cơ hội đang mở ra với Trung Quốc Chuyên gia về đông bắc Á, Antoine Bondaz thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược của Pháp cho rằng Trung Quốc sẽ không vì nước Nga và tổng thống Putin mà hy sinh hai đối tác thương mại quan trọng nhất là Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu, nhất là trong bối cảnh kinh tế của bản thân Trung Quốc hiện tại cũng đang phải « đối mặt với nhiều thách thức » và tỷ lệ tăng trưởng dự phóng chỉ ở đạt 5,5 % trong năm 2022, mức thấp nhất từ 1991. Hơn nữa Ukraina  tuy nhỏ nhưng là một « kho ngũ cốc của thế giới » rất cần thiết với Bắc Kinh. Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình cũng không thể quên rằng 2017 Kiev đã tham gia dự án Vành Đai Con Đường gắn kết Trung Quốc với phần còn lại của thế giới. Françoise Nicolas : « Con đường tơ lụa mới là một dự án lớn do ông Tập Cận Bình ấp ủ. Phải nói là hiện tại dự án này không tiến triển như Bắc Kinh mong đợi, ngoại trừ chương trình đường sắt đi từ Trung Quốc sang châu Âu, tức là đi qua Nga và đông Âu. Và trong dự án này, Ukraina là một mắt xích quan trọng. Trung Quốc không có lợi ích gì nếu chiến sự kéo dài, vì chiến sự đe dọa trực tiếp đến sự phát triển của mạng đường sắt Á – Âu ». Trong gần hai tuần qua rất nhiều các doanh nghiệp Nga mau mắn mở tài khoản tại các ngân hàng Trung Quốc. Bị loại khỏi thệ thống SWIFT, về mặt lý thuyết Matxcơva có thể trông cậy vào hệ thống tương tự CIPS mặc dù công cụ giao dịch tài chính này của Trung Quốc giới hạn ở các dịch vụ thanh toán bằng nhân dân tệ. Theo một chuyên gia của Ngân Hàng Trung Ương Phần Lan, dù rất muốn tận dụng cơ hội này để áp đặt một trật tự tài chính mới, giảm ảnh hưởng của đồng đô la Mỹ, song có nhiều khả năng Bắc Kinh tránh lao vào cuộc đọ sức giữa Nga và phương Tây. Bởi Trung Quốc đề phòng Washington dùng nguyên tắc ngoài lãnh thổ để trừng phạt những ai dùng đồng đô la Mỹ trong các dịch vụ mua bán, đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ. Điều đó không cấm cản các tập đoàn Trung Quốc đang trông thấy nhiều cơ hội sẽ mở ra một khi Nga và Ukraina đạt được thỏa thuận ngừng bắn. Cổ phiếu của nhiều công ty Trung Quốc trong lĩnh vực vận tải đường biển, khai thác hải cảng  (Jinzhou Port có trụ sở tại liêu Ninh, Xinjiang Tianshun Supply Chian), đã tăng vọt từ khi chiến sự khai mào. Trả lời hãng tin Anh Reuters, Ade Chen quản lý quỹ đầu tư GFI ở Quảng Đông cho biết : « các doanh nghiệp Trung Quốc đang đánh cuộc là hợp tác giữa Nga và Trung Quốc sẽ gia tăng » đặc biệt là trong các lĩnh vực giao thông, vận tải, hậu cần. Về phần Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược Pháp thì nhấn mạnh đến bài học mà Bắc Kinh đang rút ra từ các đợt trừng phạt của Âu Mỹ nhắm vào kinh tế Nga lần này : Antoine Bondaz : « Theo tôi bài học lớn Bắc Kinh rút ra từ xung đột này, và đó cũng là điều mà giới lãnh đạo Trung Quốc đã trông thấy trước, đó chính là cần nâng cao thêm nữa mức độ tự lập về mặt chiến lực, có nghĩa là mở rộng thêm nữa khả năng kháng cự, giảm lệ thuộc vào các nền kinh tế phương Tây, giảm lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ cao của Âu, Mỹ. Trung Quốc cũng tránh để các công ty nước ngoài chiếm một vị trí quá lớn trong cơ cấu kinh tế quốc gia, trong các lĩnh vực chiến lược. Đề phòng kịch bản các hãng ngoại quốc rút đi làm khuynh đảo hệ thống kinh tế nước này. Bắc Kinh cũng đã bị bất ngờ vì chưa bao giờ Liên Âu và Mỹ lại đưa ra những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc chưa từng thấy ». Nhà Trung Quốc học François Godement đưa ra hai nhận xét : Bắc Kinh thận trọng quan sát phản ứng của Âu, Mỹ với Nga dò xét quyết tâm của phương Tây qua  các biện pháp trừng phạt Matxcơva. Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ khó có thể thuyết phục được Trung Quốc  nếu như do dự quá lâu về khả năng cấm vận dầu khí của Nga. Thứ nữa, vẫn theo chuyên gia này, ông Tập Cận Bình tới nay cứ ngỡ rằng Liên Hiệp Châu Âu chỉ quan tâm đến những vấn đề « vòng ngoài », như bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, bảo vệ quyền của những người chuyển giới tính... Chiến tranh Ukraina làm lộ rõ Liên Âu có thể là một khối thống nhất cả về mặt an ninh và quân sự khi cần. François Godement kết luận : đó là điều sẽ làm thay đổi tương quan giữa Bắc Kinh với Bruxelles nhân thượng đỉnh vào đầu tháng 4/2022. Có một thực tế không thể chối cãi là nếu quả thực Trung Quốc là « ngõ thoát hiểm » kinh tế đối với Nga thì sớm muộn gì Bắc Kinh cũng sẽ đòi Matxcơva phải trả giá một cách tương xứng, bởi Trung Quốc đi buôn bao giờ cũng phải có lãi.

11m
Mar 08
Mức độ lợi hại của tình báo kinh tế Trung Quốc

Ngành tình báo Trung Quốc « bạo dạn và nguy hiểm hơn bao giờ hết », gây nhiều thiệt hại cho kinh tế Hoa Kỳ. Giám đốc Cục Điều Tra Liên Bang Mỹ (FBI) Christopher Wray đánh giá như trên hôm 04/02/2022. Đây không là điều mới lạ bởi từ 2018 Washington đã liên tục tố cáo Trung Quốc « ăn cắp » những bí mật công nghệ của Mỹ. Guồng máy gián điệp kinh tế của Trung Quốc hoạt động ra sao, nguy hiểm đến mức độ nào và tìm kiếm những thông tin gì ? Trả lời đài truyền hình Pháp France 24, nhà báo điều tra Roger Faligot tác giả cuốn Mật Vụ Trung Quốc, từ Mao đến Covid -Les Services Secrets Chinois, de Mao au Covid-19, NXB Nouveau Monde, trả lời phần nào các câu hỏi trên. Tác phẩm này ra mắt độc giả lần đầu năm 2015 và được cập nhật với những thông tin có được về những hoạt động « gián điệp » của Trung Quốc từ khi dịch Covid bùng phát cuối 2019 từ Vũ Hán : « khi thì để che giấu thông tin về nguồn gốc virus corona chủng mới, lúc thì để dọ thám các nghiên cứu của các viện bào chế thuốc phương Tây ». Hoạt động dồn dập Mùa hè 2021 Đài Loan tăng cường các biện pháp bảo mật những thông tin trong lĩnh vực thương mại, công nghệ thiết yếu trước các « đợt tấn công của Trung Quốc ». Mỹ và châu Âu liên tục « rào giậu » trước những hành vi dọ thám kinh tế do  Bắc Kinh chủ động. Cứ 12 giờ đồng hồ Cục Điều Tra Liên Bang Mỹ lại mở một hồ sơ mới điều tra về các hoạt động tình báo của Trung Quốc nhắm vào các quyền lợi của Hoa Kỳ. Giám đốc FBI Christopher Wray quả quyết « Chính quyền Trung Quốc đánh cắp một khối lượng thông tin khổng lồ và gây thiệt hại sâu rộng, hủy hoại việc làm trong nhiều lĩnh vực công nghiệp » tại Mỹ. Không vòng vo, giám đốc FBI nêu bật đó là những vụ ăn cắp thông tin về công nghệ, là những vụ tấn công tin học, là hành vi bắt cóc các công dân nước ngoài làm con tin để bòn rút những bí quyết công nghiệp hay của các công trình nghiên cứu. Hiện tại FBI đang điều tra hơn 2.000 hồ sơ liên quan đến những vụ ăn cắp thông tin do chính quyền Trung Quốc giật dây. Christopher Wray kết luận : « Không một quốc gia nào nguy hiểm hơn Trung Quốc đối với an ninh kinh tế của Hoa Kỳ », bởi những hoạt động phi pháp đó được chính phủ cung cấp những « phương tiện tài chính quan trọng, do có được những công cụ tinh vi và thường tuyển mộ nhiều tội phạm cyber ».  Trước hết tác giả cuốn sách về tình báo Trung Quốc, Roger Faligot nhắc lại đảng Cộng Sản Trung Quốc từ trước khi giành được chính quyền năm 1949 đã xem gián điệp kinh tế là một ưu tiên vừa để dọ thám nước ngoài vừa để nghe ngóng tình hình trong hàng ngũ Quốc Dân Đảng. Tình báo Trung Quốc khi đó hoạt động theo mô hình của Liên Xô đồng thời rút kinh nghiệm từ phía tình báo của Anh, sau một thời gian nhà hoạt động Chu Ân Lai công tác tại Luân Đôn : Roger Faligot : « Chu Ân Lai hay Đặng Tiểu Bình là những đảng viên đảng Cộng Sản Trung Quốc được đào tạo ở nước ngoài một cách rất bài bản cả trong lĩnh vực ngoại giao lẫn chính trị và công tác tình báo. Đặc biệt là ông Chu Ân Lai từng quan sát các hoạt động của tình báo Anh ở những thập niên 1920-1930 mà khi đó tình báo Anh giành một chỗ đứng đặc biệt cho các hoạt động dọ thám về kinh tế. Ông đã tiếp thu kinh nghiệm của Anh. So sánh với Liên Xô, tình báo của nước này chú trọng hơn đến các vế quân sự và chính trị. Về phía Trung Quốc, tương tự như Liên Xô, các vế này rất quan trọng nhưng với năm tháng, tình báo Trung Quốc càng lúc càng quan tâm đến những lĩnh vực như là công nghiệp, thương mại, trao đổi mậu dịch với Mỹ, Châu Âu hay Nhật Bản. Thậm chí trong thập niên 1980 Trung Quốc sao chép luôn cả mô hình của Nhật Bản với bộ não trong chiến tranh kinh tế đó là bộ Công Nghiệp và Thương Mại Quốc Tế MITI  ». Nhà báo Faligot giải thích thêm trong 1957 -1976, bước Đại Nhẩy Vọt rồi Cách Mạng Văn Hóa đặt tình báo Trung Quốc trước nhiều thách thức. Công tác thu thập thông tin về kinh tế để giúp Trung Quốc phát triển bị xao nhãng. Thủ tướng Chu Ân Lai cố gắng bảo vệ một số các chương trình nghiên cứu,che chở cho ngành nghiên cứu về vi trùng học và hạt nhân nhưng « số còn lại phải đợi đến thời kỳ hậu Mao Trạch Đông ». Chiến lược tấn công Các hoạt động gián điệp kinh tế của Trung Quốc hồi sinh dưới thời Đặng Tiểu Bình và có hẳn một « chiến lược » tấn công theo kiểu « hút chất xám của các quốc gia khác để vươn lên ». Roger Faligot : « Lamproie là một loài đỉa hút máu của những động vật khác để sống. Một tùy viên quân sự Pháp công tác tại Thượng Hải đã dùng hình ảnh này để chỉ Bộ An Ninh Quốc Gia Trung Quốc. Hình ảnh đó cho thấy cách tiếp cận của ngành tình báo Trung Quốc phục vụ các lợi ích kinh tế. Họ sử dụng các thực tập viên để thâm nhập vào những mục tiêu muốn nhắm tới. Thông thường đấy là  những đối tượng ở nước ngoài, thí dụ như là các hãng của Anh, Pháp, Đức hay Nhật. Mục đích đặt ra là « lấy của người về làm của mình » tức là sao chép và « hút » những thông tin cần thiết để rồi bước kế tiếp chính các hãng của Trung Quốc có thể tự sản xuất được những sản phẩm đó ». Thiệt hại của Mỹ 600 tỷ đô la một năm Tháng 11/2021 một tòa án tại Cincinnati, bang Ohio xử Hứa Diên Quân (Xi Yanjun) một quan chức Phòng Tình báo nước ngoài của tỉnh Giang Châu. Cơ quan này trực thuộc Bộ An Ninh Trung Quốc. Nhân viên nói trên bị quy kết « đồng lõa và âm mưu dọ thám các mục tiêu kinh tế », đồng thời « ăn cắp bí mật về thương mại » nhắm vào nhiều tập đoàn trong đó có chi nhánh hàng không General Electric Aviation của Mỹ và Safran của Pháp. Tư pháp Hoa Kỳ đã theo dõi nhân vật này từ 2013. Theo bản cáo trạng, vai trò của nhân viên tình báo Trung Quốc này nhằm nhận diện các chuyên gia làm việc cho hai tập đoàn nói trên, lôi kéo họ vào tròng dưới hình thức mời chuyên gia Pháp và Mỹ sang Hoa Lục dự hội thảo. Năm 2018 họ Hứa bị bắt tại vương quốc Bỉ và trục xuất về Mỹ. Theo điều tra của Tư Pháp Hoa Kỳ, ông trùm tình báo tỉnh Giang Châu này đã dùng mọi phương tiện để đột nhập vào máy vi tính của những mục tiêu nhắm tới, « hút » những dữ liệu và thông tin cần thiết về chương trình hợp tác chế tạo mô tơ máy bay giữa GEAviation với Safran. Tác giả cuốn Mật Vụ Trung Quốc từ thời Mao đến Covid, Roger Faligot trên đài France 24 cho biết thêm về những « vòi bạch thuộc » của mạng lưới tình báo quốc gia châu Á này.   Roger Faligot : « Chính phiên toà tại Mỹ xử một sĩ quan tình báo Trung Quốc hồi tháng 11 năm ngoái, đã để lộ ra thông tin là có cả một nhóm đặt tại Thượng Hải, được trao nhiều trọng trách cùng lúc : từ việc thâm nhập vào máy vi tính của cảnh sát Hồng Kông để theo dõi người biểu tình Hồng Kông, đến việc kiểm soát các nhà hoạt động Tây Tạng. Tư pháp Hoa Kỳ đã phát hiện, đầu năm 2020 đã có ít nhất là ba hay bốn lần các toán tin tặc Trung Quốc đã tìm cách thâm nhập vào các hãng dược phẩm Mỹ bắt đầu bào chế vac-xin chống Covid-19 ». Một bài báo trên New York Times hồi 2018 trích dẫn hai nguồn tin quân sự ỹ cho biết Trung Quốc « đánh cắp những thông tin liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế của Hoa Kỳ từ công nghiệp xe hơi đến các công ty sản xuất lốp xe, ngành hóa học, điện tử, công nghê sinh học đến ngành dược (…) Tính ra thiệt hại đối với Hoa Kỳ hàng năm lên tới 600 tỷ đô la. Phần lớn khoản thất thoát đó do Trung Quốc mà ra ». Còn trong trường hợp của Pháp ? Vụ nữ thực tập viên Trung Quốc bị bắt quả tang sao chép phần mềm của tập đoàn Valeo, sản xuất phụ tùng xe hơi của Pháp hồi năm 2005 đã thu hút công luận. Li Li đã khởi tố về tội « xâm nhập bất hợp pháp » vào hệ thống điện toán của Valeo và « lạm dụng sự tín nhiệm » của công ty để đánh cắp thông tin mật. Cô đã bị giam trong 53 ngày trước khi được trả tự do và từ đó mất tích khỏi các màn hình radar của báo giới. Li Li là người từ Vũ Hán cái nôi của nền công nghiệp xe hơi Trung Quốc sang Pháp du học. Các hoạt động gián điệp kinh tế của Trung Quốc không hề thuyên giảm từ một chục năm nay Roger Faligot : « Vụ việc đó cho thấy Trung Quốc dùng thực tập viên, dùng sinh viên - không phải là tất cả, nhưng đó là những người do bên an ninh và mật vụ kiểm soát để làm gián điệp, đánh cắp thông tin, sao chép những tài liệu cần thiết và số này cũng có thể can thiệp từ xa để thi hành nhiệm vụ. Đương nhiên là phía các doanh nghiệp trong tầm ngắm của Trung Quốc và ở cấp Nhà nước, phải có phản ứng để tự vệ. Cần ý thức được rằng đó là một mối nguy hiểm. Vụ tai tiếng liên quan đến tập đoàn Valeo chỉ là một vụ nhỏ nhưng đã làm lộ rõ quy mô can thiệp của bên tình báo Trung Quốc. Các hoạt động gián điệp kinh tế đã gia tăng đáng kể từ năm 2012 khi ông Tập Cận Bình lên cầm quyền ». Khả năng phòng vệ của Âu, Mỹ ?  Câu hỏi kế tiếp là những con mồi tiềm tàng của mật vụ Trung Quốc tự vệ như thế nào và có chuyển từ thế thủ sang thế tấn công hay không ?  Roger Faligot :  « Có. Phương Tây cũng có gài nhân viên tình báo tại Trung Quốc nhưng đó là việc làm rất khó và khuôn khổ hoạt động của số này càng bị thu hẹp lại từ khi dịch Covid-19 bùng phát. Có thể nói là virus corona đã làm xáo trộn các tổ chức trong ngành tình báo kinh tế, kể cả của Trung Quốc. Theo chỗ tôi được biết, ngành tình báo Trung Quốc cũng đã bị nhiều mất mát trong khủng hoảng y tế lần này ». Sau cùng, tác giả cuốn sách về các hoạt động tình báo kinh tế Trung Quốc từ thời Mao đến virus corona lưu ý guồng máy dọ thám của nước này là một thứ quái vật trăm tay, trăm mắt mà Bộ An Ninh Quốc Gia chỉ là một trong số những bộ phận hoạt động rất hiệu quả đó :   Roger Faligot : « Bộ An Ninh chỉ là một trong số rất nhiều cơ quan tình báo của Trung Quốc. Tôi đếm ra có hơn 77 cơ quan khác nhau, ít nhiều được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước và với mức mức độ liên hệ khác nhau với lại các tập đoàn của Trung Quốc. Thí dụ Hoa Vi có hẳn một bộ phận để dọ thám các đối thủ và bộ phận này là một tổ chức làm ăn quy củ, và lại ăn ý với bên Bộ An Ninh. Ngoài ra từ năm 2016 Trung Quốc đã cải tổ lại toàn bộ ngành tình báo quân sự. Bên cạnh đó có những bộ phận đặc trách theo dõi những ngành chuyên môn, như là bên khoa học, bên ngành dược, bên công nghệ sinh học, hay một bộ phận chuyên theo dõi các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp xe hơi. Đừng quên rằng Vũ Hán không chỉ là cái nôi của virus corona. Thành phố này còn được mệnh danh là kinh đô xe hơi của Trung Quốc » . Trước khi kết thúc buổi nói chuyện trên đài truyền hình France 24 Roger Faligot nhắc lại về cơ cấu, tình báo Trung Quốc mang tính « tâp trung cao độ » và « trong lịch sử cận đại của Trung Quốc chính vì sự tập trung quá đáng đó mà ngành tình báo Trung Quốc đã ba lần bị chao đảo », qua đó các hoạt động dọ thám vì mục tiêu kinh tế đã bị gián đoạn.

9m
Mar 01
Cáp quang trong cuộc chạy đua dưới lòng biển vì quyền lợi kinh tế

Gần 99 % mọi trao đổi trên thế giới qua internet được truyền đi nhờ một mạng lưới với hơn 420 đường dây cáp vùi sâu dưới lòng đại dương, nối liền châu Mỹ với châu Âu và châu Á. Đó là cột sống của hệ thống giao thương, tài chính, liên lạc toàn cầu. Bảo đảm an ninh và mức độ an toàn cho mạng cáp quang có độ dài gấp ba lần hành trình từ Trái Đất đến Cung Trăng là một thách thức lớn. 2020 phá kỷ lục với 36 đường cáp quang mới được triển khai trên thế giới. Tháng 10/2021 tập đoàn viễn thông Pháp Orange thông báo đường dây cáp PEACE do Trung Quốc tài trợ trong khuôn khổ Con Đường Tơ Lụa Mới xuyên qua lòng biển nối liền Pakistan với Kenya và châu Âu đã được đưa vào bờ cảng Marseille miền nam nước Pháp. Con nhện giăng tơ Grace Hopper của ông vua internet Google xuất phát từ New York, bờ đông Hoa Kỳ, đến Bude tại Anh Quốc và thành phố Bilbao-  Tây Ban Nha dự trù hoạt động trong năm nay. Đại diện của tập đoàn bà Jayne Stowell giải thích : khủng hoảng y tế Covid-19 làm lộ rõ vai trò thiết yếu của công nghệ kỹ thuật số. Hệ thống cáp dưới lòng đại dương cho phép Google chuẩn bị « đáp ứng những nhu cầu trong tương lai của khách hàng ở bất cứ nơi nào trên trái đất ». Riêng tại châu Á từ 2010 Google đã có hẳn chính sách « đông tiến », đầu tư hơn 2  tỷ đô la để mở mang hệ thống cáp quang trong vùng Châu Á Thái Bình Dương. Apricot nối liền Singapore với Nhật Bản, đảo Guam, Philippines, Đài Loan và Indonesia sẽ bắt đầu hoạt động từ 2024. Năm tới, Echo sẽ kết nối bang California, miền tây Hoa Kỳ với Singapore, Guam và Indonesia. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn trong ngành viễn thông, truyền thông và công nghệ (TMT) Analysys Mason, trụ sở tại Luân Đôn, đầu tư của Google trong thời gian gần đây vào cơ sở hạ tầng cho hệ thống cáp quang dưới lòng biển cho phép tạo thêm hơn một triệu việc làm và đem lại thêm 430 tỷ đô la GDP cho khu vực này trong giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2019. Mạng xã hội Facebook năm 2018 bị chính quyền Trump dội cho gáo nước lạnh, phải ngừng dự án bắc nhịp cầu dưới lòng đại dương đi từ Mỹ sang Hồng Kông, bởi Hồng Kông là cổng vào Trung Quốc. Không để mất nhiều thời gian, Facebook đã chuyển hướng và chọn Singapore là điểm đến cho tuyến cáp Bifrost. Trên nguyên tắc « xa lộ » dưới lòng biển này dự trù đi vào hoạt động trong 2 năm sắp tới và khả năng kết nối của Facebook trong vùng Thái Bình Dương sẽ được nâng cao thêm 70 % so với hiện tại. « Nơi chung chuyển 10 tỷ đô la mỗi ngày » Trên toàn cầu hiện có 1,3 triệu km dây cáp quang. Tuyến đường dài nhất trải dài trên 39.000 cây số, nối liền Đông Nam Á với Tây Âu qua ngả Hồng Hải. Trên đài truyền hình Pháp France 24, giáo sư về quan hệ quốc tế, Camille Morel đại học Lyon 3 Jean Moulin ghi nhận :  « Hiện tại hệ thống cáp quang toàn cầu tập trung rất lớn vào hai trục chính đó là giữa hai bờ Đại Tây Dương và xuyên Thái Bình Dương. Hoa Kỳ là trung tầm đầu não của cả hệ thống cáp quang nối liền Bắc Mỹ với châu Á và Bắc Mỹ với châu Âu. Phần lớn những trao đổi tập trung cả ở đây ». Động lực nào khiến các đại tập đoàn internet của Mỹ như những con nhện giăng tơ, đầu tư bạc tỷ để mở rộng các hệ thống cáp quang xuyên đại dương ?  Nhu cầu vận chuyển thông tin Theo giáo sư Serge Besanger giảng dậy tại Trường Thương Mại Quốc Tế INSEEC U kiêm cố vấn của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, trên thế giới mỗi ngày có khoảng 10 tỷ đô la các khoản giao dịch tài chính phải đi qua các ngả « xa lộ dưới lòng biển ». Về mức độ chiến lược, những « đường ống » dưới đáy biển này mang tính sống còn « ngang tầm với các đường ống dẫn dầu và khí đốt ». Thậm chí là còn hơn thế nữa bởi không có 420 tuyến cáp quang đó, các quốc gia, các châu lục trở nên « câm, điếc và mù ».  Đánh giá đó không lộng ngôn theo như giải thích của bà Morel, đại học Lyon đồng thời bà nhấn mạnh đến vai trò càng lúc càng lớn của những ông khổng lồ chủ yếu giao dịch với khách hàng qua mạng : « Nhu cầu trao đổi thông tin càng lúc càng lớn và càng đòi hỏi nhiều đầu tư. Trước kia các công ty phải thuê mượn hệ thống đường dây cáp. Nhưng giờ đây họ làm chủ luôn cả các mạng cáp quang đó. Các công ty lớn trên thế giới không ngần ngại xuất vốn để làm chủ toàn bộ cả một hệ thống từ khâu chuyển tải thông tin và dữ liệu cho đến các trung tâm tích trữ data. Các đối tác tư nhân luôn đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vì các cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải đầu tư rất tốn kém. Tuy nhiên bên cạnh các tập đoàn tư nhân thì luôn luôn có các nhà nước. Các dự án đầu tư để thiết kế các hệ thống cáp quang tốn kém đến nỗi trước đây hàng chục tập đoàn phải hợp sức để có được một mạng cáp đáng tin cậy. Nhưng trong thời gian gần đây thì các ông khổng lồ internet đã tham dự và những tập đoàn trong nhóm GAFA (Google, Amazon, Facebook, Apple) thừa sức để đầu tư vào các công trình này. Nhưng bên cạnh đó họ vẫn cần được các Nhà nước cấp giấy phép hoạt động. Ngoài ra chính phủ chỉ can thiệp trong trường hợp cần thiết, chẳng hạn như để lắp đặt hệ thống cáp quang giữa các đảo tại những vùng khá biệt lập. Theo các thông báo chính thức về hoạt động của Google gần đây, cổng tìm kiếm thông tin này đã đầu tư vào 18 tuyến cáp quang khắp mọi nơi trên thế giới, vào 27 đám mây Cloud trên toàn cầu. Tuy nhiên giáo sư Camille Morel, đại học Lyon 3 lưu ý một số nét đặc thù trong lĩnh vực thiết kế và khai thác cáp quang như sau : thứ nhất, Nhà nước tuy không còn đóng vai trò đầu tầu để đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhưng vẫn là một đối tác trụ cột : « Dây cáp phải được đặt trong lòng đại dương và các bên cần có giấy phép của chính phủ để hoàn thành khâu này. Tại Pháp chẳng hạn thì phải có giấy phép của các chính quyền cấp tỉnh khi đụng đến những khu vực trên đất liền hay ngoài khơi ». Điểm thứ hai là cần phân biệt giữa các nhà sản xuất cáp với các công ty phụ trách các khâu lắp đặt, bảo trì cáp dưới lòng đại dương. Đôi khi một nhà sản xuất bảo lãnh luôn cả dịch vụ lắp đặt và bảo trò cáp. Giáo sư Morel đại học Lyon 3 chú ý đến vị trí của Hoa Vi : « Về phía các nhà sản xuất cáp quang trên thế giới chỉ có ba tập đoàn lớn, một của châu Âu, một của Mỹ và một của Nhật Bản. Nhưng gần đây một tập đoàn Trung Quốc đã chen chân vào thị trường tôi muốn nói đến Hoa Vi. Tương tự như hãng của Mỹ và châu Âu, Hoa Vi vừa là một nhà sản xuất dây cáp, vừa lắp đặt và trùng tu hệ thống cáp quang dưới lòng biển ». Ba tập đoàn sản xuất dây cáp quang truyền thống của châu Âu, Mỹ và Nhật mà giáo sư Morel vừa nhắc tới gồm ASN với cột trụ là Pháp, TE SubCom của Mỹ, NEC của Nhật và Hoa Vi của Trung Quốc mới vừa nhập cuộc nhưng đã vươn lên rất nhanh nhờ hợp tác với Vodafone của Anh. Bà Camille Morel giải thích tiếp làm thế nào tập đoàn Trung Quốc đã nhanh chóng chen chân vào một lĩnh vực khá đặc biệt này : « Điều này khá thú vị, bởi đây là một thị trường hạn hẹp. Tuy nhiên Hoa Vi đã hợp tác với một đối tác của Anh để chen chân vào lĩnh vực này và rồi từng bước, nhanh chóng vươn lên vị trí hàng đầu, cạnh tranh với các đối thủ truyền thống. Đương nhiên là công ty Trung Quốc đã giảm giá để chinh phục khách hàng mới. Dù vậy ở thời điểm này, Hoa Vi vẫn có một số chậm trễ so với ba đối thủ châu Âu, Mỹ và Nhật Bản. Có điều Hoa Vị được chính quyền Trung Quốc hậu thuẫn, đặc biệt là trong khuôn khổ chương trình Con đường tơ lụa mới do Bắc Kinh khởi động. Tôi muốn nói đến hệ thống cáp quang nối liền Pakistan với Kenya và Pháp. Ở Pháp, điểm đến là cảng Marseille ». Bảo mật thông tin, an ninh và địa chính trị  Trong báo cáo công bố tháng 9/2021 cơ quan tư vấn Mỹ Atlantic Council báo động về những mối đe dọa nhắm vào hệ thống cáp, vào những cơ sở hạ tầng dưới lòng đại dương. Theo tổ chức này, các giới chức liên quan không liên quan đúng mức về những hiểm họa « cả về địa chính trị lẫn an ninh » đối với mạng internet toàn cầu. Atlantic Council nêu đích danh một số các « chế độ chuyên chế, chủ yếu là Bắc Kinh », đang muốn qua trung gian các tập đoàn như là Hoa Vi, kiểm soát cơ sở hạ tầng của mạng internet nhằm dễ dàng « chuyển hướng những dữ liệu cần thiết ». Đó không hơn không kém là một hình thức dọ thám thời đại công nghệ số. Camille Morel trường đại học Lyon 3-Jean Loulin giải thích rõ hơn : « Theo tôi các hoạt động dọ thám đó vẫn rất năng động. Không có lý do gì để ngừng nghe trộm các thông tin ở bất kỳ khu vực nào trên địa cầu. Nếu có điều kiện không một ai bỏ lỡ cơ hội để nghe/ đọc lén thư từ, hay các cuộc điện đàm cả. Trên bộ hay trên biển thì ngành tình báo kinh tế cũng đều hoạt động như nhau. Với hệ thống cáp quang được đặt dưới lòng đại dương, việc theo dõi vẫn tiếp diễn. Đương nhiên các bên đều tìm cách tự vệ, bảo mật thông tin nhưng các hoạt động gián điệp đó vẫn là một thực tế. Logic và lối vận hành của các mạng cáp quang lại càng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tình báo ».    Trong bối cảnh Trung Quốc và Mỹ đang đọ sức về nhiều mặt, từ kinh tế đến quân sự, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nga đã rơi xuống mức tồi tệ nhất từ khi chiến tranh lạnh kết thúc cách nay đa ba mươi năm, các siêu cường trên thế giới lao vào một cuộc chiến tranh dưới những hình thức mới, mà điển hình là những đợt tấn công tin học, giáo sư Serge Besanger Trường Thương Mại Quốc Tế INSEEC U đặt câu hỏi : hệ thống cáp quang toàn cầu có được bảo vệ đúng mức hay không ?  Theo ông, châu Âu đầu tư chưa đủ để bảo đảm an ninh cho các đường cáp quang biển, đầu tư chưa đủ để tự vệ trước những hoạt động dọ thám : từ 2014 giới trong ngành quan sát thấy càng lúc càng có nhiều tàu bè hoạt động gần sát và dọc theo các đường dây được vùi dưới lòng biển. Tháng 10/2020 tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg tránh nêu đích đích danh Nga nhưng đã dành hẳn một cuộc họp để bàn về những « đe dọa nhắm vào cáp biển và những cơ sở hạ tầng thiết yếu » bởi những « dữ liệu liên quan đến các hoạt động cả trong lĩnh vực dân sự và quân sự » cùng phải đi qua và đó cũng là mạch huyết sống còn của cả hệ thống giao thương quốc tế. Không phải tình cờ mà hôm 15/02/2022 bộ Quân Lực Pháp vừa công bố Chiến Lược Làm Chủ Đáy Đại Dương –Stratégie de maîtrise des fonds marins. Một trong những ưu tiên được chú ý nhiều liên quan đến việc sử dụng robot và máy bay tự hành để giám sát và bảo đảm an ninh cho các hệ thống cáp biển, cho các vùng biển sâu : đó có thể là những mục tiêu tấn công của nước ngoài để « theo dõi hay dọ thám ».  Báo cáo của Cơ quan SGDSN (http://www.sgdsn.gouv.fr/rapport_thematique/chocs-futurs/) năm 2017 về phòng thủ và an ninh quốc gia Pháp đã báo động dây cáp dưới lòng biển có khả năng trở thành « những mục tiêu tiềm tàng để các cường quốc  thao túng ». Tình báo Pháp xem đây là một chủ đề « hết sức nhậy cảm » và « quan trọng hàng đầu » cần được quan tâm.

9m
Feb 22
Khôi phục năng lượng hạt nhân Pháp : đường còn dài

Là nguồn sản xuất điện hạt nhân thứ nhì của thế giới, nhưng tháng 9/2021 Pháp bất ngờ bị Trung Quốc soán ngôi. Sáu tháng sau, tổng thống Emmanuel Macron công bố kế hoạch « đầy tham vọng », đánh cược vào các lò phản ứng modul nhỏ SMR và lò phản ứng nguyên tử thế hệ mới EPR để khôi phục lại điện hạt nhân, chìa khóa dẫn tới một sự tự chủ về năng lượng. Ngày 10/02/2022, Emmanuel Macron trình bày chiến lược năng lượng cho nửa đầu thế kỷ 21 để đạt nhiều mục tiêu cùng một lúc : giảm khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính làm hâm nóng trái đất, giảm mức độ lệ thuộc vào nhập khẩu năng lượng (chủ yếu là dầu hỏa và khí đốt), tránh để căng thẳng về địa chính trị đe dọa trực tiếp đến cỗ máy sản xuất và kinh tế và mãi lực của dân Pháp. Tạp chí hôm nay tập trung vào điện hạt nhân và tìm cách trả lời các câu hỏi vì sao, là một quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này, Pháp đã để nhiều quốc gia khác qua mặt. Để chinh phục lại vị trí hàng đầu của ngành công nghiệp điện hạt nhân thế giới, đâu là những thách thức Pháp sẽ phải vượt ? Điện hạt nhân « giải phóng » nước Pháp khỏi áp lực nhập khẩu về năng lượng ? 2021 sau một năm đại dịch Covid-19 hoành hành, vào lúc cỗ máy sản xuất và tiêu thụ của thế giới khởi động trở lại với nhịp độ ngoài mong đợi thì đó cũng là thời điểm giá năng lượng toàn cầu bị đẩy lên cao. Vì những căng thẳng địa chính trị giữa Nga và Âu -Mỹ, đường ống dẫn khí đốt Nord Stream 2 tuy đã hoàn thành nhưng vẫn chưa đi vào hoạt động, chưa thể đưa khí đốt của Nga sang Tâu Âu. Matxcơva bị tố cáo thao túng giá cả dùng dầu hỏa và khí đốt như một « vũ khí chính trị ». Tổ chức OPEP/OPEC tập hợp các nhà xuất khẩu dầu hỏa trên thế giới bị cáo buộc giới hạn mức cung để giữ giá dầu ở trên cao, qua đó hưởng lợi. Bối cảnh quốc tế đó càng thúc bách Paris đưa ra một chiến lược về năng lượng. Chính quyền của tổng thống Macron đánh cược vào điện hạt nhân dù biết đây là bài toán nan giải. Pháp dự trù xây dựng thêm tổng cộng 14 lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới EPR từ nay đến năm 2050. Nhu cầu cấp bách Năng lượng hạt nhân hiện bảo đảm 70 % nhu cầu điện lực của Pháp. Trên toàn quốc có tổng cộng 56 lò phản ứng tất cả do tập đoàn điện lực quốc gia EDF quản lý. EDF đang nợ nần chồng chất và bị chính phủ gây sức ép để giữ lời hứa hóa đơn tiền điện không tăng quá 4 % gây thêm gánh nặng cho các hộ gia đình vài tuần trước bầu cử tổng thống. Đúng vào lúc tổng thống Emmanuel Macron công bố chiến lược về năng lượng thì 10 trong số 56 lò phản ứng phải tạm ngừng hoạt động để kiểm tra về mức độ an toàn. Khả năng cung ứng bị giảm đi mất 20 % so với bình thường. Điểm này làm lộ rõ hệ thống các nhà máy điện hạt nhân của Pháp đã « già nua ». Phần lớn các nhà máy điện nguyên tử Pháp đã hoạt động từ thập niên 1970 cho nên, trong báo cáo năm 2019, Thẩm Kế Viện ước tính cần dự trù 100 tỷ euro trong 10 năm (2020-2030) cho các chi phí bảo trì. Mặt khác, hiện tại chính phủ đang tìm cách « kéo dài thời gian hoạt động » của các nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng, nhưng những sự cố dồn dập gần đây như việc phát hiện những vết nứt trong các bồn chứa nước … bắt buộc chính phủ phải có một bước chuẩn bị để thay thế bằng một thế hệ các lò phản ứng mới trong tương lai. Nhưng liệu lò phản ứng thế hệ mới EPR có là chiếc đũa thần cho phép khôi phục lại vị trí hàng đầu của Pháp trong ngành công nghiệp điện hạt nhân hay không ? Hiện tại trên thế giới mới chỉ có một lò phản ứng sử dụng công nghệ EPR của Pháp đã đi vào hoạt động – đó là tại Đài Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. EDF của Pháp liên doanh với công ty điện lực Trung Quốc CGN khai thác cơ sở này. Nhưng từ tháng 7/2021 tỉnh Quảng Đông đã phải quyết định tạm đóng cửa lò phản EPR duy nhất trên thế giới sau khi phát hiện một « sự cố làm hư hại các thanh nguyên liệu ». Trên lãnh thổ Pháp công trình EPR đầu tiên đặt tại thành phố Flamanville – vùng Normandie liên tục dời lại ngày chính thức bắt đầu hoạt động. So với dự tính ban đầu, sự chậm trễ đó tới nay đã lên tới 10 năm.   Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư Benjamin Coriat từng giảng dậy tại đại học Paris Sorbonne 13 và cũng là thành viên tập hợp Les Economistes Atterrés - bao gồm các chuyên gia, các nhà trí thức thiên tả, xem việc tổng thống Macron thông báo chương trình xây dựng 14 lò phản ứng sử dụng công nghệ mới trước năm 2050 là một nước cờ mạo hiểm. Tháng 8/2021 ông cho ra mắt cuốn sách Le Bien Commun, le Climat et le Marché – Tài sản chung, khí hậu và thị trường, NXB Les Liens Qui Libèrent.   Benjamin Coriat : «  Kinh nghiệm nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới EPR ở Flamanville không mấy khả quan bởi lẽ, dự án bị chậm trễ nhiều năm và giá thành thì cứ tăng lên mãi. Hiện tại, dự án chưa hoàn tất mà các phí tổn đã cao gấp từ 4 đến 6 lần so với dự kiến ban đầu, tùy theo cách tính toán của chính tập đoàn điện lực quốc gia Pháp EDF hay theo báo cáo của bên Thẩm Kế Viện. Thành thử, tôi lấy làm ngạc nhiên là chính phủ mạnh dạn thông báo mở thêm 14 lò nguyên tử đời mới trong lúc mà chúng ta chưa biết được một cách chính xác cần bao nhiêu thời gian và bao nhiêu kinh phí cho dự án. Kinh nghiệm EPR duy nhất đang trong quá trình thực hiện tại Pháp thì đã gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, không thể nghĩ rằng việc mua lại đầu máy turbin Arabelle của General Electric cho phép bảo đảm là chúng ta làm chủ được toàn bộ các khâu trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân. Trước đây Pháp làm chủ công nghệ này nhưng đã bán lại các nhà máy đó cho các đối tác nước ngoài, kỹ thuật của Pháp đã mai một. Đó là một tính toán sai lầm về chiến lược mà cho dù có mua lại Arabelle cũng vẫn chưa thể đảo ngược được tình huống. Những khó khăn đang phấp phải tại Flamanville, hay ở Hinkley Point tại Anh Quốc và trong một chừng mực nào đó là ở Phần Lan, cho thấy Pháp vẫn lúng túng ở khâu sản xuất, chưa có nhiều kinh nghiệm về các lò phản ứng thế hệ mới và vẫn còn nhiều nhiều thách thức vẫn chưa thể vượt qua ».  Bán công nghệ cho nước ngoài Đâu là những thách thức mà giáo sư Coriat vừa nói đến ? Về kỹ thuật trong quá khứ Pháp đã đi sai nhiều nước cờ để đánh mất vị trí hàng đầu của mình trong một lĩnh vực « mũi nhọn ». Một trong những vết thương vẫn chưa lành là vụ năm 2009 Paris để mất hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. Đối thủ của Pháp khi đó là Hàn Quốc đã giành được hợp đồng 20 tỷ đô la. Gần đây hơn Pháp liên tiếp bị qua mặt : thua Trung Quốc nếu so sánh chỉ số sản xuất điện hạt nhân, thua Nga trong công nghệ sử dụng lò phản ứng modul nhỏ SMR và thua Mỹ về số lượng các lò phản ứng hạt nhân. Vậy làm sao giải thích được mức độ « tuột dốc này » ? Benjamin Coriat : « Kịch bản này xảy ra do Pháp đã từng bước đánh mất kỹ năng ưu việt của mình. Điều đó xảy ra khi chúng ta chấp nhận chuyển nhượng những tập đoàn tiên phong trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân như FRAMATOM cho nước ngoài. Trong lúc, đó là những lá bài then chốt trong các khâu từ thiết kế đến thực hiện các nhà máy điện nguyên tử. Một khi đã để thất thoát công nghệ, không dễ để gây dựng lại được tất cả trong một sớm một chiều ». Thiếu hụt nhân sự và thách thức tài chính  Báo cáo Folz công bố năm 2019 nêu bật thêm một lý do giải thích cho sự chậm trễ của dự án EPR tại Flamanville, Pháp thiếu nhân công trong một số lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, chẳng hạn như thiếu thợ hàn để đáp ứng đòi hỏi rất cao về mức độ an toàn khi thực hiện các bồn chứa nước để làm nguội các thanh nhiên liệu. Để thực hiện các dự án 14 lò EPF trong 25 năm tới đây Pháp cần tuyển dụng ngay 4.000 kỹ sư trong ngành nguyên tử và năng lượng hạt nhân, cần 10.000 đôi tay tại các công trường, mà đó là « một nhu cầu rất lớn khó có thể nhanh chóng được đáp ứng ». Về tài chính, câu hỏi đặt ra là liệu EDF có đủ sức đầu tư cho dự án 14 lò EPR hay không và sẽ được chính phủ tiếp sức tới đâu ? Trước mắt chưa thể trả lời câu hỏi kép này : Benjamin Coriat : « Ở đây đặt ra một vấn đề kép, thứ nhất là giá thành của một lò phản ứng EPR vẫn là một ẩn số. Do vậy chưa thể xác định được cụ thể là ai sẽ tài trợ và tài trợ đến mức độ nào. Trước mắt, tập đoàn điện lực quốc gia EDFsẽ phải gánh vác lấy trách nhiệm này, tức là đầu tư để phát triển năng lượng hạt nhân cho dù đang thua lỗ nặng. Đồng thời, chính phủ, cổ đông chính của tập đoàn, lại vừa ra lệnh cho EDF phải bán điện cho các nhà phân phân phối với giá thấp hơn so với giá thị trường. Qua đó chính phủ muốn thực hiện cam kết ghìm giá năng lượng tăng không quá 4 % như đã cam kết với dân. Nói cách khác chính sách về năng lượng của chính phủ Pháp hiện tại đang làm dấy lên nhiều câu hỏi và những quyết định của chính quyền khiến công luận bất ngờ ». Uranium, chìa khóa của sự tự chủ năng lượng Giáo sư Coriat tiếc là xã hội dân sự đã ít được góp tiếng nói về việc đưa điện hạt nhân trở lại trung tâm chiến lược tự chủ về năng lượng quốc gia. Nhưng quan trọng hơn nữa là sự tự chủ của Pháp trong việc cung cấp uranium cho các nhà máy. Theo giáo sư Benjamin Coriat, đại học Paris Sorbonne 13, đó mới là chìa khóa của sự « tự chủ về năng lượng ». Benjamin Coriat : « Để tự chủ về năng lượng nguyên tử, Pháp gặp nhiều trở ngại  mà lý do chính ở đây là không còn làm chủ nhiên liệu thiết yếu, bởi vì từ lâu nay Pháp đã ngừng khai thác uranium mà chỉ mua vào uranium của nhiều quốc gia khác trên thế giới như của châu Phi. Trong tương lai, có đến 14 lò phản ứng thế hệ mới đi chăng nữa mà không bảo đảm được nguồn cung ứng uranium thì cũng vẫn không có đủ năng lượng để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Tôi cho rằng chúng ta có thể nói đến một sự tự chủ về năng lượng nếu có đủ năng lượng tái tạo. Pháp lệ thuộc vào khí đốt của Nga, mà chúng ta thấy rõ là căng thẳng địa chính trị hiện tại đang đặt ra nhiều vấn đề. Năng lượng hạt nhân không là chìa khóa cho phép giải quyết được tất cả nếu như không làm chủ được các nguồn cung ứng về nguyên liệu ». Giảm mức độ lệ thuộc vào nhập khẩu dầu hỏa và kí đốt, Pháp đã đạt được mục tiêu đó dưới thời tổng thống Valéry Giscard d’Estaing trong thập niên 1970 nhờ hàng chục lò phản ứng hạt nhân lần lượt đi vào họa động. Đó cũng là thời kỳ hoàng kim trong ngành khai thác uranium tại Pháp. Nhưng đến cuối thập niên 1990 nước Pháp ngừng xây thêm các nhà máy điện nguyên tử. Công nghiệp khai thác uranium cũng « đã tàn theo ». Kể từ năm 2000, 100 % uranium sử dụng trong các nhà máy điện hạt nhân của Pháp nhập từ nước ngoài nhưng được làm giàu trên lãnh thổ Pháp. Theo thống kê chính thức của tập đoàn điện lực quốc gia EDF trung bình mỗi năm Pháp cần từ 8 đến 10.000 tấn uranium để cung cấp cho 56 lò phản ứng tại 18 nhà máy điện hạt nhân trên toàn quốc. Báo cáo của cơ quan nguyên tử châu Âu Euratom năm 2020 cho thấy, trong giai đoạn 16 năm trở lại đây, 4 nguồn  cung cấp quan trọng nhất của Pháp gồm Kazakhstan, Úc, Niger và Ouzbékistan. Bốn quốc gia nay bảo đảm 75 % nhu cầu tiêu thụ của Pháp. Nói cách khác, để ngành điện hạt nhân vận hành tốt Pháp cần bảo đảm được các nguồn cung cấp. Trước mắt tập đoàn EDF từ chối cung cấp các thông tin cụ thể về xuất xứ khối lượng uranium nhập khẩu. Riêng Orano, tập đoàn Pháp chuyên xử lý uranium, một chi nhanh từng thuộc về AREVA cũng trong ngành điện hạt nhân, thì trấn an công luận rằng « 44 % nhu cầu uranium của Pháp do các quốc gia thuộc Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế cung cấp » đây là cách để xua tan lo ngại năng lượng hạt nhân Pháp cũng sẽ bị căng thẳng địa chính trị chi phối trong tương lai.

9m
Feb 15
Trung Quốc đánh mất phép lạ kinh tế

GDP tăng hơn 8 % trong năm 2021: đó là năm cuối cùng Trung Quốc đạt thành tích vượt bậc ? Chiến lược « Zero Covid » và virus corona là dấu chấm hết, khép lại chu kỳ tăng trường thần kỳ suốt bốn thập niên, từ cuộc cải cách thời Đặng Tiểu Bình ? Cho đến tận những tuần lễ cuối 2021 Bắc Kinh đã rất tự tin với tăng trưởng 8 % trong năm. Đó là dấu hiệu virus corona dường như không tác động đến nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Thành tích đó vượt ngoài mong đợi. Đại dịch đang hoành hành, Trung Quốc vẫn là công xưởng của thế giới, thặng dư mậu dịch tăng 60 % so với hồi 2020 và đạt gần 680 tỷ đô la, hơn một nửa số tiền thu về đó nhờ giao thương với Hoa Kỳ.   Vào lúc thế giới vẫn lao đao vì đại dịch xuất phát từ Vũ Hán cuối 2019, Bắc Kinh tự mãn với chiến lược « Zero Covid », phong tỏa chặt chẽ ngay khi phát hiện một vài bệnh nhân. Sau hai năm chung sống với dịch, Trung Quốc tiếp tục đóng chặt cửa với phần còn lại của thế giới. Trên đỉnh cao quyền lực, chủ tịch Tập Cận Bình hài lòng với các dự phóng Trung Quốc soán ngôi Hoa Kỳ trở thành siêu cường số 1 thế giới trước 2030. Nhưng đó chỉ là vỏ bọc bề ngoài. Trong dự báo đầu tiên của năm 2022 Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới cùng hạ dự báo tăng trưởng của toàn cầu, Trung Quốc không là một ngoại lệ. Tăng trưởng của Trung Quốc có khuynh hướng « bị chựng lại » thậm chí rơi xuống còn 4,8 % cho cả năm 2022 sau khi đã đạt thành tích 8,1 % trong năm 2021 theo IMF. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế giải thích nguyên nhân : khủng hoảng dịch tễ kéo dài, biến thể Omicron và chính sách « Zero Covid » của Bắc Kinh bắt đầu làm tê liệt một phần các hoạt động kinh tế. Dân và kinh tế mệt mỏi Trả lời đài RFI Việt ngữ, giáo sư kinh tế Mary - Françoise Renard, đại học Clermont Auvergne, tác giả cuốn  La Chine dans l’économie mondiale – Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới - nhà xuất bản Presse Universitaire Blaise Pascal vừa ra mắt độc giả tháng 9/2021 ghi nhận các biện pháp chống dịch quyết liệt của Bắc Kinh tuy hiệu quả về mặt y tế -căn cứ vào các số liệu chính thức, nhưng về mặt xã hội và kinh tế thì Trung Quốc đang phải « trả giá đắt » :   Mary - Françoise Renard : « Trung Quốc áp dụng chính sách zero Covid và phải nhìn nhận rằng cho đến hiện tại, chính sách đó cho phép kềm tỏa dịch bệnh tương đối tốt. Nhưng về mặt xã hội, chủ trương đó bắt Trung Quốc phải trả giá đắt. Các biện pháp phòng chống dịch rất khắt khe và các đợt phong tỏa chặt chẽ ngay khi mới phát hiện một vài ca bị nhiễm Covid- hay bị nghi là dương tính, khiến người dân mệt mỏi. Một số chờ đợi chính phủ sẽ nới lỏng các biện pháp chống dịch sau Thế Vận Hội. Nhưng với những biến thể mới của virus, rồi thuốc vac-xin Trung Quốc lại không mấy hiệu quả, không chắc Bắc Kinh nới lỏng các biện pháp chống dịch. Do vậy chính quyền lại càng phải theo dõi sát tình hình, cảnh giác, tránh để công luận tức nước vỡ bờ ». Còn trên phương diện kinh tế, một số hoạt động bắt đầu bị chựng lại, giáo sư Renard giải thích tiếp : Mary - Françoise Renard : « Một số lĩnh vực đã bị chựng lại, chủ yếu là trong ngành cung cấp dịch vụ, nhà hàng hay trong ngành giải trí. Tại Trung Quốc, đấy là những lĩnh vực vốn rất năng động, nhưng đã bị virus corona tấn cho một đòn mạnh. Ngoài ra, Covid-19 làm lộ rõ những nhược điểm của hệ thống y tế nước này, đó là một hệ thống hoàn toàn không có khả năng đối phó với một đợt dịch ở quy mô toàn quốc. Thế rồi dịch Covid-19 cũng đã cho thấy rõ những khác biệt về mức độ phát triển giữa các tỉnh thành ở Trung Quốc, cách biệt giàu nghèo càng rõ hơn và người nghèo bị thiệt hại trước hết. Chỉ số tiêu thụ tại Trung Quốc chưa phục hồi, sức mua sắm của người dân không được như mong đợi. Kèm theo đó là câu hỏi về chuỗi giá trị toàn cầu khi mà môt số nhà máy của Trung Quốc phải đóng cửa tất nhiên có một một sự chậm trễ trong việc giao hàng. Thực tình mà nói trước mắt chúng tôi không có cảm tưởng là tác động đang quá lớn, bởi vì phần lớn các khách hàng của Trung Quốc từ ít lâu nay, đã tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung ứng, tránh để phụ thuộc qua nhiều vào một nhà sản xuất, vào một quốc gia, chứ không chỉ riêng gì đối với Trung Quốc ». Lo âu lớn trong nội bộ  Chủ trì một cuộc họp hồi tháng 12/2021 chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra kết luận Trung Quốc phải đối mặt với 3 khó khăn cùng lúc : « mức tiêu thụ sụt giảm, sản xuất bị sa sút, mức độ yếu kém đó của khu vực sản xuất nghiêm trọng hơn dự báo ».  Trong cùng tháng, Ngân Hàng Trung Ương can thiệp đến hai lần để « tiếp sức » cho các hoạt động kinh tế. Vài ngày sau đó (hôm 05/01/2022) thủ tướng Lý Khắc Cường thông báo giảm thuế để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ « điêu đứng vì đại dịch ». Thông báo được đưa ra vào lúc số các doanh nghiệp mới khai trương giảm sụt mạnh. Cựu bộ trưởng tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ (Lou Jiwei) công khai đặt câu hỏi tại sao các thống kê chính thức « luôn mau mắn thông báo về con số các công ty mới mở nhưng ngược lại chẳng bao giờ đề cập đến những hãng bị phá sản ? Tại sao lại phải che giấu thông tin đó ? ». Trung tuần tháng 1/2022, phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Lưu Quế Bình (Liu Guiping), được báo Les Echos trích dẫn đi sâu hơn vào chi tiết. Ông đã liệt kê ra một loạt những thách thức chờ đợi Trung Quốc trong thời gian sắp tới. Trong đó bao gồm : hiện tượng các doanh nghiệp nước ngoài di dời cơ sở sản xuất khỏi Hoa lục vì những lý do kinh tế hay chính trị. Khó khăn thứ nhì là Trung Quốc bắt đầu thiếu linh kiện bán dẫn. Mối đe dọa thứ ba vẫn là virus corona với những tác động khó lường đối với cả kinh tế toàn cầu lẫn bản thân Trung Quốc. Yếu tố thứ tư là lạm phát. Nguy cơ thứ năm theo thẩm định của lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương là Âu -Mỹ bắt đầu siết lại chính sách tiền tệ và hậu quả kèm theo là vốn nước ngoài rời khỏi Hoa Lục. Về phía các doanh nhân nước ngoài, nếu như nhà tỷ phú Mỹ Elon Musk vẫn trông thấy Trung Quốc là thị trường màu mỡ với hãng xe Tesla của ông, thì bên cạnh đó không ít các doanh nhân Pháp, châu Âu và Mỹ cũng như từ châu Á, « ngại » đầu tư vào Trung Quốc. Hai năm kể từ khi virus corona hoành hành, nhiều danh nhân vẫn chưa thể quay lại Hoa Lục, một số khác chán nản khi thấy nhà nước Trung Quốc gia tăng kiểm soát các hoạt động kinh tế tư nhân. Một số khác nữa thấy trước hiện tượng ngành mua bán bất động sản Trung Quốc, tương đương với 25 % GDP nước này, « đổ dàn » kéo theo một tai họa.   Nhâm Dần năm chẳng lành ? Trong bối cảnh đó theo chuyên gia kinh tế Pháp, giáo sư Mary-Françoise Renard đại học Clermont Auvergne, Trung Quốc không thực sự an tâm bước vào năm Nhâm Dần :  Mary-Françoise Renard : « Trước mắt, thách thức đầu tiên là Thế Vận Hội lần này diễn ra trong những điều kiện tốt nhất. Cố gắng tránh để số ca nhiễm Covid bùng phát khi Olympic Bắc Kinh bế mạc. Trung Quốc cần đưa ra hình ảnh tốt đẹp đối với cộng đồng quốc tế và nhất là với công luận trong nước. Về lâu về dài, thách thức đối với Trung Quốc là đạt được mục tiêu « thịnh vượng chung » mà ông Tập Cận Bình đã đề ra. Để đạt được mục tiêu đó, cần có tăng trưởng để giảm thiểu những bất bình đẳng trong xã hội. Trung Quốc đương nhiên có những nhược điểm như đã biết, chẳng hạn như về mặt dân số. Hiện tại những bất bình đẳng đó đã quá lớn và chúng xuất phát từ chính sách kinh tế của nước này từ trước tới nay. Ông Tập đang tìm cách giảm thiểu tác động bất cập đó hiềm nỗi, Trung Quốc không thực sự có các biện pháp mang tính xã hội. Cùng lúc Bắc Kinh muốn đẩy mạnh công nghệ, nâng cấp mô hình kinh tế, giảm bớt mức độ lệ thuộc vào một số công ty nước ngoài. Nói cách khác, Trung Quốc đang theo đuổi nhiều mục tiêu cùng một lúc và đôi khi những mục tiêu đó mâu thuẫn với nhau. » Thông tín viên báo Le Monde Frédéric Lemaitre ghi nhận quan điểm của cựu bộ trưởng Tài Chính Lâu Kế Vĩ, hay của phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Lưu Quế Bình có lẽ không « thuận tai » chủ tịch Tập Cận Bình. Điều đó để lộ một số « căng thẳng » trong guồng máy quyền lực ở Bắc Kinh vào lúc mà lãnh đạo Trung Quốc chuẩn bị điều hành đất nước ít nhất là thêm một nhiệm kỳ thứ ba.  Mary-Françoise Renard : « Bình thường ra thì chủ tịch Tập Cận Bình sẽ được ủy nhiệm thêm một nhiệm kỳ thứ ba. Do vậy điều tối quan trọng đối với Bắc Kinh là phải chứng minh được rằng, dưới sự dẫn dắt của ông Tập, Đảng và Nhà nước đã chọn đúng hướng đi, đã đưa ra những quyết định tốt nhất cho dân chúng, cả về mặt kinh tế, lẫn về y tế. Bắc Kinh cần chứng minh rằng mô hình Trung Quốc là giải pháp tốt nhất cho phép cải thiện mọi mặt trong đời sống của người dân. Ngoài ra ông Tập Cận Bình cũng cần bịt miệng những tiếng nói chống đối, để có thể tiếp tục rảnh tay điều hành đất nước theo ý mình. Cuộc chiến chống Covid-19 là một trong những yếu tố then chốt trong chiến lược đó của ông Tập Cận Bình. Chẳng vậy mà tới nay Bắc Kinh một mực tìm cách giải thích virus từ nước ngoài thâm nhập vào Trung Quốc, ngay cả những ca nhiễm mới hiện nay cũng do người từ « bên ngoài » đem vào Hoa lục. Có nhiều khả năng lập luận đó sẽ tiếp tục được áp dụng để phủi trách nhiệm cho ông Tập Cận Bình ».          Ở thời điểm này, ông Tập Cận Bình luôn là người có tiếng nói sau cùng. Ngoài ra, giới quan sat tuy nêu bật những yếu kém của mô hình tăng trưởng Trung Quốc nhưng không quên rằng, đến nay, cộng đồng quốc tế đã nhiều lần bất ngờ trước khả năng thích nghi với tình huống của Bắc Kinh. Nước đông dân nhất địa cầu cũng đã chứng minh với công luận về khẳ năng đảo ngược thế cờ. Có điều một số nhà phân tích theo dõi lâu năm thời sự Trung Quốc lưu ý trong các tài liệu chính thức, cụm từ « kinh tế tăng trưởng ổn định » mà càng được nhắc tới nhiều chừng nào thì đó càng là dấu hiệu cho thấy, tình hình sôi sục ở bên trong ». Trong báo cáo gần đây nhất kết thúc một khóa họp về tình hình kinh tế nước nhà chữ, cụm từ đó được nhắc đi nhắc lại đến 25 lần.

9m
Feb 08
Trung Quốc khép lại thời kỳ kinh tế tự do ?

Chính quyền Trung Quốc đang gia tăng quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế, kể cả với mảng kỹ thuật số và chủ trương « thịnh vượng chung » được ôngTập Cận Bình đưa ra hồi tháng 8/2021 làm dấy lên câu hỏi : Bắc Kinh áp dụng trở lại chính sách « tập trung kinh tế như dưới thời Mao » và chấm dứt thời kỳ mở cửa thị trường mà ông Đặng Tiểu Bình chủ trương ? Trong chủ trương về kinh tế mới dưới thời đại Tập Cận Bình, Bắc Kinh dành chỗ đứng nào cho kinh tế tư nhân ? Trung Quốc có còn hấp dẫn trong mắt các doanh nghiệp nước ngoài nữa hay không ? Phương Tây sẽ phải thay đổi cách tiếp cận với thị trường Trung Quốc như thế nào ? Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia kinh tế Jean-Joseph Boillot, Viện Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược –IRIS của Pháp đã đưa ra một quan điểm khác để trả lời các câu hỏi trên và nhắc lại truyền thống « tập trung quyền lực » là vết ADN của Trung Quốc từ thời Tần Thủy Hoàng. Quay lại với mô hình kinh tế tập trung ? Cơ quan giám sát tài chính quốc gia Trung Quốc lần lượt « kỷ luật » Ant Financial, chi nhánh tài chính của tập đoàn mua bán trên mạng Alibaba vì cạnh tranh bất bình đẳng. Tencent một ông vua trong thế giới internet vì « lạm dụng thế độc quyền ». Gần đây hơn là hãng cung ứng dịch vụ gọi xe taxi Didi -kiểm soát đến 90 % thị trường, bị điều tra chỉ một ngày sau khi tham gia sàn chứng khoán New York với lý do « vi phạm quy định về không gian mạng » của Nhà nước. Hệ quả kèm theo là hàng tỷ đô la trị giá cổ phần của những « ông khổng lồ công nghệ số » Trung Quốc bốc hơi. Không ít nhà quan sát báo động Bắc Kinh khiêu chiến với các ông vua công nghệ và có nguy cơ « bóp chết những con gà đẻ trứng vàng ». Nhưng dưới nhãn quan của giới lãnh đạo Trung Quốc thì đã đến lúc những tập đoàn thịnh vượng nhất – mà đứng đằng sau thường là những nhà tỷ phú có tên trong danh sách những người giàu có nhất thế giới, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Ưu tiên của Bắc Kinh ở vào thời điểm này là đem lại « thịnh vương chung » cho 1,4 tỷ dân sau khi Đảng đã hoàn thành xứ mệnh « xóa đói giảm nghèo » và đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc trên thế giới. Trong bài tham luận đăng trên báo kinh tế Les Echos hôm 12/01/2022, Jean-Joseph Boillot cố vấn kinh tế thuộc viện IRIS nói đến « một thời đại kinh tế mới mang tên Tập Cận Bình ». Theo chuyên gia này, để hiểu được chiến lược kinh tế và phát triển của Trung Quốc hiện tại, hiểu được những nước cờ của Bắc Kinh với phương Tây thì phải ngược dòng thời gian nhìn lại học thuyết pháp trị đã xuất phát từ thế kỷ thứ VII trước Công Nguyên và lịch sử kinh tế thế giới là một chuỗi dài những « chu kỳ » mà hiện tại, « trường phái pháp gia với chủ trương dùng luật lệ, hình pháp của Nhà nước làm tiêu chuẩn được khoác một chiếc áo mới ».   Từ thái quá này đến thái quá khác  Trên đài RFI tiếng Việt nhà nghiên cứu này nhắc lại : trước Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản, Trung Quốc đã là một nền kinh tế tập trung quyền lực với một ý tưởng rất mạnh đó là vai trò « trung tâm » của Nhà Nước trong các hoạt động kinh tế. Trong lịch sử cận đại của Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã giành được chính quyền, tiến hành bước Đại Nhẩy Vọt rồi cuộc Cách Mạng Văn Hóa với những hậu quả tai hại kèm theo và Đặng Tiểu Bình là người đã điều chỉnh lại tác động thái quá thời Mao để lại và mở ra một thời kỳ mới cho kinh tế Trung Quốc. Jean-Joseph Boillot : « Thời kỳ Đặng Tiểu Bình cho phép Trung Quốc tiến hành một bước đại nhảy vọt ngoạn mục để trở thành một cường quốc, thậm chí là một siêu cường ngang hàng với Mỹ mà trong một số lĩnh vực, Trung Quốc còn vượt xa hơn cả Hoa Kỳ. Tuy nhiên cũng chính những năm tháng Đặng Tiểu Bình đã nảy sinh một tầng lớp tư bản, nảy sinh cách biệt giàu nghèo trong xã hội. Đó cũng là giai đoạn nạn tham nhũng bùng lên một cách lộ liễu và ở quy mô ‘công nghiệp’. Đặng Tiểu Bình muốn kinh tế Trung Quốc đuổi kịp các nước công nghiệp tiên tiến, nhưng chính trong quá trình phát triển thần kỳ đó đã đặt ra nhiều vấn đề như là nạn ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí… Thế rồi, dưới thời của ông Tập Cận Bình, Trung Quốc bắt buộc phải điều chỉnh lại những bất cập đó, bởi công luận không còn dễ dàng chấp nhận những vấn đề trong xã hội từ tham nhũng đến bất bình đẳng giàu nghèo, môi trường. Một chu kỳ mới đã mở ra : Trung Quốc bước vào giao đoạn mà tôi gọi là tân pháp trị, có nghĩa là trở lại với học thuyết pháp trị mà ở đó Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo, điều hành các hoạt động kinh tế. Điều đó giải thích cho hiện tượng Bắc Kinh đang siết chặt các chính sách kinh tế sau ba, bốn chục năm thả lỏng cho kinh tế tự điều chỉnh theo luật chơi của thị trường ». Chính sách mới tiếp tục dựa vào tư nhân Vậy thuần túy về kinh tế, học thuyết « tân pháp trị » của ông Tập Cận Bình có gì mới ? Chuyên gia Boillot, viện IRIS trả lời :  Jean-Joseph Boillot : « Về mặt kinh tế, tư tưởng này nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của Nhà nước trong cách thao túng, cách khai thác cái thú tính của các doanh nghiệp tư nhân. Bởi xét cho cùng chính các hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân đó mới là nguồn tạo ra của cải. Thành thử sẽ là một sai lầm nếu nghĩ rằng Trung Quốc đang quay lại với mô hình kinh tế tập trung như xưa. Nhưng trong tư tưởng tân pháp trị, Trung Quốc khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước là nhằm luôn luôn kiểm soát các doanh nghiệp, kiểm soát các hoạt động kinh tế, tránh để một tập đoàn trở nên quá mạnh. Do vậy Alibaba bị trừng phạt để không thể trở thành một cỗ máy quá mạnh chi phối cỗ máy kinh tế quốc gia. Điểm thứ nhì tiêu biểu cho chính sách kinh tế mới của ông Tập Cận Bình là Bắc Kinh có một tầm nhìn dài hạn, thậm chí là cả một chính sách phát triển công nghiệp trong một thời gian rất, rất dài. Chính vì thế mà Trung Quốc có hẳn chính sách kế hoạch hóa kể cả cho ngành công nghệ … Sau cùng, nét đặc thù thứ ba của tư tưởng tân pháp trị liên quan đến ý tưởng về công lý, về một sự phân phối thu nhập công bằng. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, mô hình phát triển của Trung Quốc đã đi quá đà. Thế rồi cả một tầng lớp những nhà tư bản đỏ ngồi trên những khoản tài sản bạc tỷ đã nổi lên và số này đã làm tan vỡ mô hình xã hội Trung Quốc. Do vậy ông Tập Cận Bình muốn tái lập lại cái được gọi là công bằng xã hội. Thêm vào đó trong bối cảnh Trung Quốc đương đầu với Mỹ, đấy lại càng là cái cớ để củng cố vai trò của Nhà nước về địa chính trị. Bắc Kinh cho rằng để đối phó với một cuộc chiến kinh tế, và cả về mặt chính trị, Nhà nước là tấm bia đỡ đạn để bảo vệ Trung Quốc ». Quá trễ để mặc cả với Trung Quốc ? 20 năm trước đây, khi Bắc Kinh  gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, cộng đồng quốc tế đã trông thấy thị trường với hơn một tỷ dân này là một « miền đất hứa ». Các doanh nghiệp ngoại quốc đã nhanh chóng mở chi nhánh tại Trung Quốc. Trong chiều ngược lại, Bắc Kinh cũng đã dễ dàng đón nhận đầu tư nước ngoài. Trung Quốc trở thành « công xưởng của thế giới », là nguồn cung cấp hàng rẻ cho toàn cầu. Năm 2008 là một cột mốc quan trọng : tác động dây chuyền từ khủng hoảng địa ốc Hoa Kỳ làm suy yếu các nền kinh tế phương Tây, tiếp theo đó là khủng hoảng Hy Lạp xuýt khai tử khối đồng tiền chung châu Âu. Đó là cơ hội để Trung Quốc hiện nguyên hình là « chủ nợ » của thế giới, kể cả của Mỹ. Một cách kín đáo hơn trong 20 năm trở lại đây một số doanh nghiệp Trung Quốc đã làm chủ một số công nghệ cao từ viễn thông đến công nghệ sinh học... Các tập đoàn Trung Quốc đã ồ ạt đầu tư vào châu Âu và cả tại Hoa Kỳ, mua lại những công ty của Âu - Mỹ. Tháng 6/2021 Ngân Hàng Thế Giới thậm chí không loại trừ khả năng Trung Quốc qua mặt nước Hoa Kỳ trở thành nền kinh tế số 1 toàn cầu vào ngưỡng 2030. Chính vì muốn tránh kịch bản này xảy ra, Washington đã không ngần ngại xem Trung Quốc là « mối đe dọa nguy hiểm nhất ». Liên Hiệp Châu Âu thì xem Bắc Kinh là « đối thủ có hệ thống ». Bắc Kinh thì không còn mặc cảm thua kém ai : Trung Quốc không cần đầu tư của nước ngoài và trong nhiều lĩnh vực, ông khổng lồ châu Á này không còn cần đến công nghệ của Âu- Mỹ. Vậy chiến lược nào trong cách tiếp cận của phương Tây với Trung Quốc ?  Jean-Joseph Boillot : « Tựu chung, những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc như thể quốc gia này vẫn còn sống dưới thời đại Mao Trạch Đông. Trong quá trình nghiên cứu tôi đi đến hai kết luận như sau trong cách tiếp cận với Trung Quốc : thứ nhất là chúng ta cần hiểu cách suy nghĩ của đối phương - bất luận đó là Trung Quốc hay một quốc gia nào khác. Một khi hiểu được tư tưởng kinh tế của Trung Quốc thì phải hiểu rằng Trung Quốc chỉ mở cửa cho một tập đoàn nước ngoài nếu như điều đó có lợi cho Trung Quốc, cho người dân Trung Quốc. Trong gần 40 năm qua, Trung Quốc muốn đốt giai đoạn để phát triển nên đã dễ dàng nhượng bộ. Rõ ràng là các doanh nghiệp nước ngoài trông thấy thị trường rộng lớn Trung Quốc là một miền đất hứa, cho nên cũng đã dễ dàng chấp nhận những điều kiện của Bắc Kinh để chen chân được vào Hoa Lục. Hệ thống siêu thị Carrefour của Pháp chẳng hạn đã hiện diện tại rất nhiều các thành phố lớn ở Trung Quốc và đã tự do hoạt động. Nhưng giờ đây Trung Quốc không cần đến những công ty nước ngoài đó nữa. « Nguyên tắc có qua có lại » Kết luận thứ nhì tôi rút ra được là với Trung Quốc chúng ta có thể chọn giải pháp trực diện đối đầu như trong cách hành xử của Mỹ, xem Trung Quốc như một đối thủ có hệ thống và như vậy, con đường duy nhất là đi tới chiến tranh, chấm dứt giao thương. Bên cạnh đó thì chúng ta cũng có thể suy nghĩ một cách khác, tìm lợi thế trong đối thoại với Trung Quốc cho dù đó không mà một quốc gia dân chủ. Tìm một kênh đối thoại không có nghĩa là phương Tây phải đầu hàng hay nhượng bộ mà đó đơn giản là buộc Trung Quốc phải chấp nhận nguyên tắc có đi có lại. Thí dụ, nếu Bắc Kinh muốn kiểm soát một công ty nước ngoài vào hoạt động tại Hoa Lục, thì phương Tây cũng áp dụng chính sách tương tự với các nhà đầu tư Trung Quốc : không để cho bất kỳ một tập đoàn Trung Quốc nào cũng có thể đầu tư vào tất cả các lĩnh vực kinh tế của Âu, Mỹ. Đơn giản đó là một sự đối xứng ».  Phần trả lời RFI tiếng Việt hoàn toàn phản ánh quan điểm của tác giả. Ngoài ra ông cũng đã phản bác lập luận cho rằng Trung Quốc giờ đây đã quá mạnh để có thể dễ dàng áp đặt luật chơi của mình với các đối tác nước ngoài muốn đầu tư vào Hoa Lục. Jean-Joseph Boillot giải thích « bất kỳ một siêu cường nào cũng có những nhược điểm, kể cả Hoa Kỳ trong những thập niên 60-70 », không « một sức mạnh nào là tuyệt đối ». Điều quan trọng trong đối thoại với Bắc Kinh, theo chuyên gia Pháp này, là Liên Hiệp Châu Âu phải đoàn kết để có một tiếng nói chung đòi Trung Quốc áp dụng nguyên tắc « có đi có lại ». Châu Âu hay Mỹ thì cũng phải có những công cụ pháp lý để bảo vệ những lĩnh vực kinh tế thuộc diện « chiến lược » và an ninh quốc gia.

9m
Jan 25
Giải mã liên hệ kinh tế Nga - Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ đang đứng trước một thách thức kép. Về đối nội, Ankara trực diện với cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất từ 20 năm qua kèm theo là những hậu quả chính trị khó lường một năm trước bầu cử. Về đối ngoại, tổng thống Erdogan vừa bị thêm một vố đau : Kazakhstan, một lá chủ bài của Ankara tại Trung Á lệ thuộc nhiều hơn vào nước Nga. Nhà nghiên cứu Tolga Bilener giảng dậy tại đại học Galatassaray, Istanbul, phân tích về đối thoại Nga-Thổ Nhĩ Kỳ thêm phức tạp khi lợi ích của đôi bên chồng chéo lẫn lên nhau. Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ trong cơn bão tố Achentina thường giữ kỷ lục thế giới về lạm phát, nhưng vừa bị Thổ Nhĩ Kỳ soán ngôi. Theo thống kê của Ankara trong năm 2021, chỉ số này  tăng 36 %, cao gấp 7 lần so với dự phóng của chính phủ. Đồng tiền quốc gia mất giá gần 50 % so với đô la. Hóa đơn nhập khẩu do vậy tăng lên gấp đôi. 15 % dân số trong tuổi lao động thất nghiệp và theo giới quan sát Thổ Nhĩ Kỳ con số chính thức « thấp hơn nhiều so với thực tế ».   Vào lúc mãi lực của người dân Thổ Nhĩ Kỳ trung bình tuột dốc không phanh thì hóa đơn tiền điện tăng lên từ 52 đến 120 % (tùy theo hợp đồng), giá một lít dầu ăn tăng gần gấp đôi, giá một ổ bánh mì tăng thêm 54 %. Những khó khăn chồng chất đó xuất phát từ nhiều yếu tố : một là giá xăng dầu, nguyên liệu, nhu yếu phẩm trên thế giới tăng lên. Hai là Thổ Nhĩ Kỳ lệ thuộc vào nhập khẩu năng lượng, mỗi năm phải chi ra gần 50 tỷ đô la để mua dầu khí của nước ngoài, chủ yếu là Nga. Việc đồng tiền quốc gia mất 50 % trị giá so với đô la là một tai họa. Nguyên nhân thứ ba giải thích khủng hoảng kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài cạn kiệt : đang từ 20 tỷ đô la năm 2007 rơi xuống còn 5,5 tỷ đô la hồi 2020. Phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, Didier Billion nói đến một sự « sụp đổ » về tín nhiệm của các nhà đầu tư quốc tế đối với chính quyền Erdogan càng lúc càng độc đoán - đặc biệt là kể từ sau cuộc đảo chính hụt năm 2016. « Kinh tế trưởng Erdogan : một tai họa » Nguy hiểm hơn nữa là chính sách kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ đang « đi lầm đường ». Trong bài tham luận hôm 10/01/2022 Préoccupantes turbulences économiques en Turquie  -Những khuấy động kinh tế đáng lo ngại của Thổ Nhĩ Kỳ trên trang chủ của viện IRIS, Didier Billion không quên những yếu tố nhất thời làm suy yếu kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại. Đứng đầu trong số đó là những tác động dây chuyền Covid-19 dẫn tới. Nhưng tình hình đã trở nên nghiêm trọng do từ 2018 tổng thống Ergogan tập trung quyền lực kể cả trong lĩnh vực kinh tế. Tác giả bài viết nêu bật những « chỉ thị bất cập » mà tổng thống Recep Tayyip Erdogan áp đặt : từ quyết định giảm lãi suất chỉ đạo đến việc liên tục sa thải các chuyên gia cao cấp của Ngân hàng quốc gia, thay thế bộ trưởng Tài Chính như thể giải pháp thay thế nhân sự đó là ngõ thoát hiểm, chấm dứt nạn lạm phát, chấm dứt hiện tượng đồng tiền quốc gia bị mất giá. « Một phần các chuyên kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ, các tổ chức công đoàn, chính trị gia trong hàng ngũ đối lập liên tục chỉ trích chính sách kinh tế vô hiệu quả đó » nhưng nhà nghiên cứu Pháp, Didier Billion ghi nhận « mọi tiếng nói bất đồng đều đã bị gạt qua một bên ». Ankara lệ thuộc hơn vào Matxcơva  Vấn đề đặt ra là đến mùa xuân năm 2023 Thổ Nhĩ Kỳ bầu lại tổng thống và Quốc Hội. Đảng cầm quyền Công Lý và Phát Triển AKP cần lấy lại hào quang trong lòng cử tri. Một trong những chìa khóa tháo giữ bế tắc dường như đang được đặt tại nước Nga. Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư Tolga Bilener giảng dậy tại đại học Galatassaray, Istanbul điểm lại quan hệ kinh tế mật thiết về kinh tế giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Nga Tolga Bilener : « Về khối lượng, tổng trao đổi mậu dịch giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Nga liên tục gia tăng từ thập niên 1990 : đang từ 4 tỷ đô la năm 1997, đã đạt tới 26 tỷ vào năm 2019 trước đại dịch Covid-19 và đương nhiên giao thương hai chiều bị sa sút do khủng hoảng y tế. Sau Đức, Nga là đối tác thứ nhì của Thổ Nhĩ Kỳ - nhưng lại đứng trước Trung Quốc. Matxcơva xuất khẩu năng lượng và mua vào nông phẩm ở chiều ngược lại. Cán cân thương mại nghiêng về phía Nga. Thổ Nhĩ Kỳ lệ thuộc vào khí đốt và dầu hỏa của nước ngoài mà Nga bảo đảm đến 30 % nguồn cung cấp. Ngoài ra, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ do Nga xây dựng. Trong ngành du lịch, một lĩnh vực tương đương với 5 % GDP, 20 % du khách ngoại quốc là người Nga. Cuối cùng, vũ khí cũng là một yếu tố quan trọng trong quan hệ song phương : năm 2019 hợp đồng trang bị hệ thống tên lửa S400 của Nga đã gây ra một cuộc khủng hoảng ngoại giao sâu đậm giữa chính quyền Ankara với các đồng minh phương Tây ». Hiềm khích Nga - Thổ Nhưng bang giao giữa Thổ Nhĩ Kỳ với nước Nga ngày nay hay với Liên Xô cũ và xa hơn nữa là giữa hai đế chế Ottoman và đế quốc Nga chưa bao giờ suôn sẻ. Chuyên gia Bilener nhắc lại là xung đột quân sự từng xảy ra 14 lần, từ thế kỷ thứ 16 đến Đệ Nhất Thế Chiến, bởi đôi bên có những quyền lợi đối chọi với nhau Dưới thời Liên Xô cũ, Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên Minh Bắc Đại Tây Dương năm 1952. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, năm 1991 Nga và Thổ vẫn trong tư thế kình nghịch. Dưới thời tổng thống Vladimir Putin, Matxcơva muốn kiểm soát trở lại các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và điều đó càng khiến xung khắc giữa đôi bên hằn sâu thêm. Điều này được kiểm chứng tại vùng Kapkaz, trong xung đột giữa Armenia và Azerbaijan, trong vùng Balkan hay ở Trung Đông. Còn liên quan đến Ukraina : Ankara không chấp nhận việc Matxcơva thôn tính bán đảo Crimée, Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của NATO bán drones cho Kiev. Dù vậy chính quyền Erdogan không về hùa với phương Tây để trừng phạt Nga xâm chiếm vùng lãnh thổ này của Ukraina.   Tháng 11/2021 tại thủ đô Ankara, tổng thống Ergodan đã chủ trì lễ khai sinh Tổ Chức các Quốc Gia nói tiếng Thổ (Organization of Turkic States) hậu thân của Hội đồng các quốc gia nói tiếng Thổ. Tổ chức đó bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ và 4 nước Trung Á, Azerbaïdjan, Kazakhstan, Kirghizistan và Uzbekistan.  Tolga Bilener đại học Istanbul phân tích vì sao Trung Á dù là sân sau của Nga, nhưng luôn là một vùng ảnh hưởng mà Ankara muốn nhắm tới : Tolga Bilener : « Trung Á là một khu vực ưu tiên đối với Thổ Nhĩ Kỳ kể từ năm 1991. Ankara đã rất hân hoan trước việc 5 quốc gia trong vùng giành được độc lập bởi do có một sự gần gũi về ngôn ngữ, về sắc tộc, lịch sử, văn hóa và tôn giáo. Thổ Nhĩ Kỳ muốn lôi kéo khối này vào quỹ đạo của mình. Đương nhiên bên cạnh đó là những quyền lợi kinh tế : Ankara tìm kiếm những thị trường mới cho doanh nghiệp và muốn củng cố ảnh hưởng tại Trung Á, xem đó là bệ phóng mới, tạo thêm sức mạnh cho Thổ Nhĩ Kỳ. Giới lãnh đạo nước này từ thập niên 90 đã có tham vọng mở ra một thế giới thuộc ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ trải dài từ vùng biển Adriatic đến tận Vạn Lý Trường Thành. Ankara muốn phát triển hệ thống các đường ống dẫn dầu và khí đối với các nước Trung Á. Hơn 4000 doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đang hoạt động trong khu vực này, đồng thời Ankara mở rộng các mối quan hệ từ ngoại giao đến văn hóa, tôn giáo với các nước tại Trung Á. Tháng 11/2021 dưới sự vận động của chính quyền Erdogan, Tổ Chức Các Quốc Gia thuộc văn hóa Thổ đã được khai sinh nhưng khủng hoảng Kazakhstan vừa rồi đã cho phép Nga ghi được một bàn thắng quan trọng và phải nói là điều đó khiến Thổ Nhĩ Kỳ lo ngại ». Do vậy trong cuộc khủng hoảng tại Kazakhstan khi chính quyền của tổng thống Tokaiev cầu viện Tổ Chức Hiệp Định Anh Ninh Tập Thể OTSC mà đứng đầu là Nga can thiện để « dẹp lọan, tái lập trật tự an ninh » : Ankara cảm thấy bị việt vị. Tolga Bilener : « Kazakhstan là một lá chủ bài ở Trung Á, nhờ trọng lượng về địa lý, nhờ các nguồn dự trữ năng lượng, nhờ tầm cỡ lịch sử của quốc gia này. Tuy nhiên chưa bao giờ Thổ Nhĩ Kỳ lấn át được ảnh hưởng của Nga trong toàn khu vực Trung Á. Đó là chưa kể đến một đối tác mới vừa nổi lên gần đây là Trung Quốc. Thậm chí là quyền lợi về kinh tế của Bắc Kinh đối khu vực này bắt đầu đe dọa đến lợi ích của Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Nói cách khác, Nga đóng vai trò sen đầm ở Trung Á, Trung Quốc là ông chủ ngân hàng, ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ bị thu hẹp lại trên phương diện văn hóa và tôn giáo và rõ ràng là Ankara không đủ phương tiện kinh tế để thực hiện những tham vọng chính trị ».    Lực bất tòng tâm Nhưng những tham vọng chính trị đó bị hạn chế bởi những phương tiện tài chính eo hẹp. Chuyên gia Tolga Bilener, đại học Istanbul kết luận : Tolga Bilener : « Chính những khó khăn kinh tế thường xuyên giới hạn tham vọng về chính trị của Ankara đối với khu vực. Cho dù Nga và Thổ Nhĩ Kỳ nỗ lực sưởi ấm bang giao, quan hệ song phương luôn bị những hiềm khích quá khứ tác động. Hiện tại quan tâm hàng đầu của Thổ Nhĩ Kỳ là khó khăn kinh tế, đồng tiền quốc gia mất giá 50 % từ đầu 2021 đến nay so với đô la và euro. Sức mua của người dân qua đó tuột dốc mạnh. Hơn thế nữa, là một quốc gia phải nhập khẩu dầu hỏa và khí đốt, hóa đơn năng lượng lại càng nặng thêm. Bình thường ra, mỗi năm Thổ Nhĩ Kỳ huy động 45 tỷ đô la để bảo đảm nhu cầu về năng lượng. Với tình hình hiện tại, giá nguyên liệu trên thế giới tăng cao, Thổ Nhĩ Kỳ chịu chung luật chơi của thị trường. Các khoản nhập siêu và thâm hụt ngân sách càng thêm nghiêm trọng. Giới phân tích không loại trừ khả năng, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ lại phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tương tự như hồi 2001 và chính khủng hoảng đó đã dẫn tới một sự thay đổi về chính trị ».

9m
Jan 18
2022, Kinh tế Nhật mệt mỏi vì những thách thức quân sự và an ninh khu vực

Nhờ những nền tảng kinh tế vững chắc, tỷ lệ tăng trưởng của Nhật Bản sẽ cao hơn mong đợi trong năm 2022 nhưng do dịch Covid-19, nguy cơ khan hiếm linh kiện bán dẫn và mức nợ công hơn 250 % GDP vẫn rập rình đe dọa nền kinh tế thứ ba toàn cầu. Nguy hiểm hơn nữa là những căng thẳng địa chính trị khiến Tokyo liên tiếp tăng ngân sách quốc phòng bảo đảm an ninh. Chuyên gia Edouard Pflimlin, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS trong bài viết «  2022, Le Japon à la croisée des Chemins – Nhật Bản trước khúc quanh quyết định» (ngày 04/01/2022) ghi nhận : ngân sách quốc phòng của Tokyo đi từ kỷ lục này đến kỷ lục khác, chính phủ liên tiếp « bổ sung ngân sách phòng thủ » và Nhật Bản đang hướng tới mục tiêu dành đến 2 % GDP cho các chương trình phòng thủ. Với một nền kinh tế kém năng động hơn do 126 triệu dân số bị lão hóa, với mức nợ công đầu người trên dưới 80.000 đô la, Nhật Bản có thể tiếp tục tăng chi tiêu quân sự đến khi nào và tới mức độ nào ? Hai ẩn số kinh tế : Covid-19 và chip điện tử Trước Giáng Sinh, chính quyền Tokyo nâng dự phóng tăng trưởng cho tài khóa 2022/2023 đang từ 2,2 % lên thành 3,2 %. Hãng tin Anh Reuters lưu ý nếu đạt được mục tiêu này, thì đây sẽ là mức tăng trưởng cao nhất tại Nhật Bản từ 2010. Cũng trước ngày Giáng Sinh, Nghị Viện đã bổ sung thêm 300 tỷ đô la cho ngân sách trong tài khóa 2021/2022 mà hơn 70 % nhằm tài trợ một kế hoạch mới hỗ trợ kinh tế khắc phục hậu quả Covid-19 : bơm thêm mãi lực cho người tiêu dùng, đài thọ các phí tổn về y tế, đài thọ các chiến dịch tiêm chủng …   vào lúc một biến thể mới đe dọa toàn cầu. Tuy nhiên việc nội các Fumio Kishida đã phải nhanh chóng bổ sung ngân sách cho thấy tăng trưởng của Nhật vẫn rất mong manh. Trong quý 3/2021 GDP Nhật Bản đã bị chựng lại. Tờ báo tài chính Forbes nói đến một năm 2022 đầy thách thức chờ đợi thủ tướng Nhật. Thuần túy về kinh tế, ẩn số lớn nhất vẫn là virus SARS-CoV-2 với những biến thể mới tiếp tục khủng bố cả thế giới. Nhật Bản tới nay vẫn đóng chặt cửa biên giới ít nhất cho đến cuối tháng 2/2022. Ngành hàng không, khách sạn, chưa biết đến khi nào mới lại có thể đón 31 triệu du khách quốc tế như trước khi Covid-19 bùng phát. Mối đe dọa thứ nhì là nguy cơ cỗ máy công nghiệp bị tê liệt vì thiếu chip điện tử cho dù Tokyo đã có một sự chuẩn bị từ trước, qua việc hợp tác với tập đoàn Đài Loan TSMC hay với các đối tác Mỹ. Hiện tượng này đã bắt đầu ảnh hưởng đến một số lĩnh vực như ngành sản xuất xe hơi : gần như hàng ngày Nissan, Tokyota…  đều phải giải quyết vấn đề tránh để nhà máy phải đóng cửa và cho nhân viên tạm nghỉ việc. Tháng 11/2021 Tokyo thông báo đầu tư thêm 6,5 tỷ đô la phát triển công nghiệp bán dẫn với mục tiêu chính là sản xuất chịp điện tử ngay trên lãnh thổ Nhật. Bên cạnh hai khó khăn nói trên thì Nhật Bản đã bắt đầu thiếu nhân lực để cỗ máy kinh tế vận hành. Số thanh niên vừa mừng lễ Seijin Shiki đánh dấu 20 tuổi, tuổi trưởng thành, năm nay giảm mất 40 % so với hồi 2019. Vào lúc mà lực lượng lao động giảm sụt thì mức nợ công tính theo đầu người lại không ngừng tăng lên. Ngoại trừ Nhật Bản, không một nền công nghiệp phát triển nào trên thế giới có mức nợ công tương đương với 256 % tổng sản lượng quốc gia. Thách thức an ninh Dù vậy trước một năm mới vừa mở ra, giới quan sát đồng loạt cho rằng, vế an ninh mới là mối ưu tư hàng đầu của nội các Fumio Kishida. Amy Danise trên báo Forbes chú trọng vào mối đe dọa Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Pháp Edouard Pflimlin, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS có tầm nhìn rộng hơn khi đề cập đến « ba mối đe dọa » nhắm vào Nhật Bản. Trả lời đài RFI tiếng Việt, chuyên gia Pflimlin trước hết phân tích về « hiểm họa quân sự » đặc biệt là Bắc Kinh và Nhật Bản cùng khẳng định chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông, kế tới là hai hồ sơ nóng gồm Đài Loan và Biển Đông đều có nguy cơ « chận các cổng ra vào của Nhật Bản » : Edouard Pflimlin : « Trước hết là mức độ phát triển của quân đội Trung Quốc. Hải quân nước này càng lúc càng mạnh, với những phương tiện hùng hậu, với tàu sân bay, tàu ngầm tối tân nhất. Trung Quốc cũng đang phát triển tên lửa ở tốc độ trên 6.000 cây số/giờ, và rất khó phát hiện hay chận bắt loại tên lửa siêu thanh này. Đó là chưa kể đến hàng loạt vũ khí khác Bắc Kinh có trong tay. Tôi muốn nói đến những loại vũ khí thuộc về một thế hệ công nghệ mới như là drone, vũ khí chống vệ tinh hay công cụ cho phép khai mào một cuộc chiến cyber. Tất cả những phương tiện đó nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên bộ và trên biển và do vậy liên tục tạo áp lực rất lớn đối với Nhật Bản ». Sát cạnh với Trung Quốc, các chương trình phát triển quân sự và vũ khí của Bắc Triều Tiên cũng là một rủi ro cao.  Edouard Pflimlin : « Mối đe dọa thứ nhì như chúng ta đã thấy trong thời gian gần đây, là Bắc Triều Tiên. Hôm 05 tháng Giêng vừa qua, Bình Nhưỡng lại bắn thử tên lửa về phía biển Nhật Bản. Bắc Triều Tiên xác nhận đó là tên lửa có tầm bắn rất xa. Chế độ nước này duy trì áp lực triền miên trong khu vực để bảo vệ cho sự tồn tại. Năm 2021 ngành công nghiệp vũ khí của Bắc Triều Tiên đã đạt được nhiều tiến bộ qua việc bắn tên lửa đạn đạo có mang theo đầu đạn hạt nhân từ tàu ngầm, thử nghiệm thành công tên lửa siêu thanh … cho dù nạn đói hoành hành tại quốc gia Bắc Á này ». Nhìn về phía đông bắc Nhật Bản, xung khắc giữa Toyo và Matxcơva về chủ quyền quần đảo Kuril : dù không là một điểm nóng như ở phía sườn Tây, nhưng nước Nga chưa bao giờ lơ là với miền viễn Đông và Thái Bình Dương. Edouard Pflimlin : « Đe dọa thứ ba có vẻ là ít nghiêm trọng hơn nhưng lại là một thực tế xuất phát từ Nga. Hiện tại Matxcơva đang đe dọa một quốc gia độc lập ở sát cạnh sườn tây của Nga là Ukraina. Còn về mặt trận viễn đông, Nga đã tăng cường đáng kể lực lượng Hải Quân trong vùng Thái Bình Dương, tăng cường sự hiện diện trên quần đảo Kuril nơi có tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản, và tại đây quân đội Nga đã mở rộng các căn cứ và thậm chí đã triển khai cả tên lửa đến khu vực này. Sau cùng, Nhật Bản ý thức được rằng, Nga hợp tác chặt chẽ với Trung Quốc cả về các hoạt động hải quân ». Khả năng « trường kỳ kháng chiến » ? Chính ba mối đe dọa về địa chiến lược vừa nêu đã bắt buộc Nhật Bản hai năm liên tiếp « tăng ngân sách quốc phòng ở mức kỷ lục ». Chưa bao giờ ngân sách phòng thủ của Nhật đạt gần 50 tỷ đô la cho cả năm – xấp xỉ với ngân sách quốc phòng của Pháp, nhưng chỉ bằng chưa đầy 20 % so với của Trung Quốc theo thẩm định của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI. Trong dự thảo ngân sách « bổ sung » đầu tiên của nhiệm kỳ, trình bày với nghị viện hôm 26/11/2021, thủ tướng Kishida đề xuất chi thêm 6,5 tỷ đô la để trang bị tên lửa, máy bay tuần tra, trực thăng và các trang thiết bị quân sự khác cho lực lượng an ninh quốc gia. Edouard Pflimlin nhấn mạnh đây là lần đầu tiên từ 1976 ngân sách phòng thủ Nhật Bản vượt ngưỡng quy định 1 % GDP. Hơn nữa Tokyo cam kết sẽ dành hẳn đến 2 % tổng sảm phẩm nội địa để đài thọ các phí tổn về quốc phòng, trong đó có việc tăng ngân sách cho các hoạt động của căn cứ quân sự Mỹ tại Okinawa. Có điều các phương tiện tài chính của Nhật dù rất lớn những cũng có giới hạn. Edouard Pflimlin: « Kinh Tế Nhật không hoàn toàn trong tình trạng thực sự thoải mái đặc biệt là với dịch Covid-19 và những tác động kèm theo. Ngoài ra, mức nợ của chính phủ thuộc vào hàng cao nhất trong số các quốc gia công nghiệp phát triển. Đó là một áp lực với kinh tế nước này và sức ép lại càng mạnh hơn khi Tokyo phải tăng ngân sách quốc phòng. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng về dài hạn, Nhật Bản có thể duy trì nỗ lực đó một cách liên tục hay không ? » Chắc chắn một điều là những chi phí về quân sự của Nhật cũng đóng góp nhiều cho tăng trưởng kinh tế quốc gia Edouard Pflimlin : « Ngân sách này chủ yếu tập trung vào các khoản chi tiêu trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển – RD, vào những loại vũ khí sử dụng công nghệ mới, để trang bị chiến đấu cới đời mới như F35 của Mỹ. Ngoài ra Nhật Bản cũng có tham vọng trang bị tên lửa siêu thanh, đẩy mạnh các chiến dịch chống tấn công tin học… Tất cả nhằm mục đích tăng cường khả năng quân sự ».

8m
Jan 11