144_Truyện Kiều | Kiều gặp Từ Hải_Hồi XVIII (Câu 1915-2034) | Nguyễn Du.
JAN 29
Description Community
About
Hồi 18, Sau khi bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư, Kiều trú chân nơi am mây với sư Giác Duyên giàu lòng thương người. Nhưng chẳng được bao lâu, Kiều gặp Bạc Hạnh, đều là phường buôn phấn bán hoa như Tú Bà và một lần nữa, Kiều lại bị lừa vào thanh lâu.
Nhưng rồi, cũng trong chương này, Truyện Kiều cho ta một niềm
tin về “Ở hiền gặp lành”. Kiều đã gặp được Từ Hải: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng. Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha." Để rồi cho ta một cái kết đẹp với: "Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng"
Chú thích:
1. Chiêu Ẩn: Tên ngôi chùa, nghĩa là chiêu nạp những người ẩn dật.
2. Hằng Thuỷ: Tên hiệu một vị sư nữ khác mà Kiều mạo xưng là thầy học mình.
3. Hậu tình: Tình nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật.
4. Am mây: Do chữ vân phòng, chỗ ở nhà sư ở.
5. Vẻ ngânÁnh bạc, ánh trăng sáng như bạc.
6. Đàn việt: Người đứng ra bố thí, thường thường để chỉ người có công với nhà chùa, hay người đi vãn cảnh chùa.
7. Cửa giàTiếng Phạn gọi chùa là già lam. Ở đây ý nói ngồi chờ nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại.
8. Đồng môn: Cùng học một thầy, một trường, ý nói Bạc bà cũng một phường chủ lầu xanh như Tú bà.
9. Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa: Tục ngữ: “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”. Ở đây mượn ý ấy để nói Thuý Kiều đã mang tiếng trốn chúa và ăn cắp, thế nào cũng bị người ta dị nghị.
10. Oan giaBạc bà địa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia kiếp trước vào nhà mình để chực gây tai hoạ cho mình.
11. Phá gia: Phá nhà.
12. Xe dâyCũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng.
13. Thành thân: Làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng.
14. Châu Thai: Chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
15. Phải cung, rày đã sợ làn cây cong: Cổ ngữ: “Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi”, nghĩa là con chim đã bị thương vì cung thì thấy cái cong cũng sợ mà bay cao.
16. Sở cầu: Cầu đến, hỏi đến, ý nói muốn cưới làm vợ
17. Tâm minh: Lấy lòng thực mà thề với nhau
18: Thành hoàng, Thổ công: Ý nói Bạc Hạnh thề rằng nếu mình không tốt với Kiều thì xin thành hoàng, thổ công chứng giám.
19. Lễ tơ hồng: Tức là Nguyệt lão, vị thần xe dây cho người nên vợ nên chồng.
20. Hành việnTên gọi khác của nhà chứa.
21. Số hoa đào: Theo nhà thuật số đời xưa thì đào hoa làm một hung tịch, chiếu vào cung mệnh con trai thì bệnh tật, chiếu vào cung mệnh con gái thì phải làm gái thanh lâu.
22. Hồng quân: Chỉ con tạo.
23. Hồng quần: Cái quần đỏ, được dùng để chỉ người con gái.
24. Mặt phấn: Mặt trát phấn, ý thân phận người con gái.
25. Biên đình: Nơi biên ải xa xôi.
26. Râu hùm, hàm én, mày ngài: Tướng mại của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm mở rộng như chim én, mày cong và to như con tằm.
27. Anh hào: Anh hùng hào kiệt.
28. Côn quyền: Côn là món võ đánh bằng gậy; quyền: món võ đánh bằng tay.
29. Lược thao: Mưu lược về các dùng binh, do chữ “Lục thao, Tam lược” là hai pho binh thư đời xưa mà ra.
30. Việt Đông: Chỉ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở về phía đông sông Việt, nên gọi là Việt Đông.
31. Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo: Hoàng Sào, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường, có câu thơ: “Bán kiên cung kiếm băng thiên túng, Nhất trạo giang sơn tận địa duy” (Chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả gầm trời, Chỉ một mái chèo mà đi khắp cả non sông).
32. Tâm phúc tương cờ: Tương cờ tức tương kỳ, lòng dạ hứa hẹn với nhau. Từ Hải muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri kỷ chứ không phải là cái tình yêu đương trăng gió tạm bợ.
33. Mắt xanh: Nguyên Tịch đời Tấn trọng ai thì nhìn bằng con mắt xanh, khinh ai thì nhìn bằng con mắt trắng. Câu này ý nói Từ Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không?
34. Cá chậu chim lồng: Chỉ hạng người tầm thường, sống trong vòng giam hãm câu thúc.
35. Bình Nguyên Quân: là Triệu Thắng, một trong thần nhà Triệu thời Chiến Quốc, được phong đất ở Bình Nguyên nên gọi là Bình Nguyên Quân, nổi tiếng là người hiếu khách.
36. Tấn Dương: Nơi Đường Cao Tổ khởi binh đánh nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Thuý Kiều tin tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương.
Comments